Giấc mơ Cao nguyên đá

0
566

Đêm mưa, sau tiếng sấm gầm vang cuối trời, Uyên bật dậy, mồ hôi toát ra ướt đầm lưng áo. Mẹ cô nằm ở gian bên chạy sang, ôm con vào lòng vỗ về: “Không sao đâu con, chỉ là giấc mơ thôi, không sao cả”. Hóa ra chỉ là giấc mơ. Bóng một người đàn ông mặc bộ quần áo đen, tay cầm chiếc khèn, đứng trên đỉnh núi đá, dưới làn sương mờ ảo. Uyên không nhìn rõ khuôn mặt người đàn ông, nhưng cô cảm thấy có nét quen thuộc nào đó. Người đàn ông đứng đó, đưa tay vẫy Uyên lại. Nhưng khi cô vừa chạy đến thì tất cả vụt mất, cô thấy mình đứng sát mép núi, phía dưới là vực sâu thăm thẳm. Giấc mơ đó, thi thoảng cô vẫn thấy trong những đêm mưa gió. Cô thở dài, uống một ngụm nước mẹ đưa rồi nằm xuống, nắm chặt chiếc vòng tay màu đỏ, có buộc một đồng bạc nhỏ, thiếp đi trong mệt mỏi.

 

ve dep cua cao nguyen da dong van (6)

 

Phứ về nhà bước chân không còn vững, cứ lảo đảo men theo con dốc quanh co lởm chởm đá mà về. Con đường này đi quen quá rồi, say mấy cũng không ngã được. Phứ xuống chợ uống rượu cả ngày, vùi trong men rượu để quên đi đời khổ cực, bạc bẽo. Cái khổ cực đã khiến Mây sẵn sàng bỏ hai bố con Phứ mà đi.

 

Năm ấy, mặc cho cái rét cuối đông còn vấn vít, đào, mận trên nương đã bắt đầu bung nụ. Mỏng manh, lặng lẽ mà mãnh liệt phủ sắc xuân lên cao nguyên đá Đồng Văn giữa mưa sương, giá lạnh bao trùm. Tết đã về với bản Mông rồi đấy. Sau ngày mùng một đi chúc Tết, mọi người từ khắp nơi về dự hội Gầu tào. Trai gái người Mông là đông nhất, váy áo rực rỡ như hoa tô điểm cho núi rừng ngày hội Tết. Phứ cũng đi hội như bao trai bản. Phứ gặp Mây, con mắt nhìn nhau thấy ưng bụng lắm. Nhà Mây ở bản bên, cũng nghèo lắm. Mẹ Mây mất sớm, chỉ có hai bố con ở với nhau trong căn nhà chênh vênh lưng chừng núi. Biết Phứ và Mây thương nhau, vì thương Phứ mồ côi từ nhỏ, lại ưng cái chân băng rừng không biết mỏi, cái tay làm nương giỏi của Phứ nên bố Mây cũng thuận tình cho đôi trẻ nên duyên. Chẳng có ông mối dạm hỏi gì đâu, cứ dắt nhau về vậy thôi, tục háy pù người Mông bao đời nay vẫn thế, đã thương nhau và được cha mẹ đồng ý thì đưa nhau về mà sinh sống làm ăn.

 

Nước trên đỉnh núi dần cạn, đất cằn thiếu nước không làm ruộng được, Mây phải sang bản bên, cách đến ba mươi phút để gùi nước về. Đường xa, khó đi, nhưng cần nước để sinh hoạt, nuôi con gà, con lợn, khổ mấy vẫn phải đi. Ruộng nương không có nước tưới thì phải đợi mưa, mưa xuống, giữa đêm nghe tiếng mưa là phải dậy tranh thủ đi cày ngay. Phứ qua biên giới làm thuê có khi cả năm mới về, một mình Mây ở nhà làm nương nuôi con. Hôm bố Mây ngã núi rồi mất, cũng không gọi Phứ về được. Một mình Mây phải lo toan tất cả, có những lúc tưởng chừng gánh nặng này như tảng đá đè lên vai, không sao chống đỡ nổi. Cứ chợ phiên, Mây lại gùi ngô xuống bán. Có đoàn người dưới xuôi lên, họ đi những chiếc xe ô tô to lắm, tiếng động cơ leo dốc đèo ầm ĩ. Họ buôn bán, uống rượu, ăn thắng cố, mèn mén với dân bản rồi lại về xuôi. Những chuyến xe chở hàng hóa xuôi ngược ngày càng nhiều hơn, đem đến cho phố đá cao nguyên bao điều mới mẻ. Người ta nói, dưới xuôi đẹp lắm, nhà cửa xây cao như đỉnh núi, xe máy, ô tô thay ngựa leo dốc nhanh như gió, không đói khổ như ở đây đâu. Và dường như, với người dưới xuôi lên, mảnh đất, con người nơi đây cũng để lại trong lòng họ nhiều quyến luyến. Đàn ông xuôi có người lấy gái người Mông, người Dao, người Tày trên cao nguyên đá và ở lại, cũng có người xin cưới đưa vợ về xuôi. Rồi gái bản theo người về xuôi hết thôi. Đi mà chạy cái đói, cái khổ, mà tìm đến cuộc sống mới nơi phố thị.

 

Một hôm, Mây đưa con gái sang gửi nhà trưởng bản Páo như mọi khi rồi đi chợ phiên. Mãi đến tối vẫn không thấy Mây về. Một ngày, hai ngày, ông Páo xuống tận huyện tìm, thấy người ta bảo Mây đã theo xe ô tô về đường xuôi từ hôm chợ phiên rồi. Từ đó, dân bản không còn thấy Mây trên nương, dệt lanh, phơi vải nữa.

 

***

 

Phứ vẫn đi làm thuê ở Trung Quốc, nhưng không đi lâu như trước nữa, có người thuê thì đi vài ngày, không lại ở nhà địu con lên nương cuốc đất trồng ngô. Đứa con nhỏ cứ phải gửi nhà ông Páo, có khi Phứ đi lâu quá, ông Páo bận việc xuống huyện nhiều ngày thì đứa bé lại tha thẩn theo lũ trẻ trong bản sang nhà này ăn, sang nhà khác ngủ. Vất vả, đói khổ vắt đến cùng kiệt sức trai tráng ngày nào của Phứ. Một chiều đông nọ, khi mặt trời đang dần khuất sau núi, chỉ còn những vệt nắng dài hắt nơi cuối trời. Gió đại ngàn gào thét, quật hơi sương lạnh buốt vào thân người gầy gò, khẳng khiu như cái cây rừng héo úa. Phứ đứng bên sườn núi, nơi có bãi đất dân bản vẫn thường phơi vải lanh, ném vào không gian mênh mông cái nhìn ưu tư, sầu não, thi thoảng ho những cơn kéo dài như xé tan lồng ngực. Nắng tắt. Bỏ lại tiếng thở dài sau lưng, Phứ bước về phía nhà trưởng bản Páo. Bước chân nhọc nhằn leo con dốc ngoằn ngoèo đổ dài như con rắn. Đến cổng Phứ thấy Dính, con gái Phứ đang ngồi chơi với mấy đứa trẻ ở hiên nhà. Phứ lại gần chơi cùng con một lúc rồi đi vào nhà, qua gian bếp, ánh lửa hồng tỏa hơi ấm khiến Phứ thấy dễ chịu hơn. Phứ đi ra sân sau gặp ông Páo.

 

– Mày về lúc nào, Phứ? – Giọng ông Páo trầm, lạnh lùng mang sự uy nghiêm.

 

– Trưa nay. – Vừa dứt câu Phứ gập người ho sù sụ.

 

– Vào nhà, tao lấy rượu uống. – Ông Páo vừa đi vào bếp vừa nói.

 

Ông Páo năm nay sáu mươi, tóc đã bạc hết, nhưng đôi chân, đôi tay vẫn thoăn thoắt lên nương như thanh niên trai tráng trong bản. Phứ theo ông Páo lên rừng từ nhỏ nên ông coi Phứ như con cháu trong nhà. Ông thương cho cái thân Phứ, mồ côi từ nhỏ lại chịu nhiều khổ cực. Từ ngày Mây bỏ đi, Phứ càng thêm vất vả. Thương thằng bố vất vả, ông lại thương đứa con nhiều hơn. Ông Páo rót chén rượu ngô đưa cho, Phứ uống cạn một hơi, thấy hơi men nóng chạy dọc cổ họng. Biết Phứ có chuyện, ông rót tiếp rượu vào chén và hỏi:

 

– Mày có chuyện gì à?

 

Phứ lặng im một lúc, đôi mắt trũng sâu vì mệt, vì ốm. Trông như thân cây non sau cơn lũ quét tàn tạ, đổ rạp.

 

– Ông Páo à, tôi nghĩ kỹ rồi, tôi sẽ đưa cái Dính đi, cho nó làm con một nhà người Hoa bên kia biên giới.

 

Ông Páo bất ngờ lắm, nhưng vẫn lặng yên nghe Phứ nói hết.

 

– Sang đấy, nó sẽ có bố mẹ mới, chứ ở bên này rồi lại khổ như cái thân tôi thôi.

 

– Không được đâu Phứ à, mày đưa nó sang đấy biết sướng khổ thế nào, đi rồi là mất gốc, không còn là người Mông nữa đâu. Mày ở đây, tao trông nó cho mà đi làm kiếm tiền.

 

Phứ biết ông Páo sẽ phản đối, nhưng đã quyết định rồi, trưởng bản có nói gì cũng vậy thôi.

 

– Hôm rồi, gặp cán bộ y tế xã, người ta bảo tôi bị bệnh nặng lắm, phải xuống tỉnh chữa. Đường về tỉnh xa lắm, tôi không muốn đi. Nếu có chết, cũng phải chết giữa núi rừng mình chứ.

 

– Mày cứ đi chữa đi, mình ở trên này xuống tỉnh chữa bệnh, Nhà nước giúp nhiều lắm, không mất tiền đâu. – Ông Páo gạt nhanh lời nói của Phứ rồi nhấc chén rượu lên uống một hơi.

 

Trời bắt đầu tối, Súa, con gái ông Páo bắc nồi nấu cơm. Dính ôm mấy thanh củi từ sân sau vào bếp cho Súa. Ngày mẹ bỏ đi, Dính mới ba tuổi, từ đấy đến giờ đã mấy mùa ngô, nó không nhớ rõ mặt mẹ, chỉ biết có bố, mà bố cũng hay phải đi xa. Ở nhà ông Páo từ nhỏ, nó coi đây như nhà mình. Súa làm cho Dính cái quẩy tấu nhỏ vừa người, đưa Dính lên nương dạy nó tra hạt, phát cỏ, bẻ ngô.

 

Dính không biết nhiều về mẹ, chỉ biết băng qua quả núi bên kia là nhà ông ngoại, nhưng ông cũng mất rồi. Phứ không muốn con gái sang đấy, sợ họ hàng nhà Mây gieo vào đầu óc Dính những hình ảnh không tốt về mẹ. Phứ muốn con gái lớn lên sẽ được hạnh phúc, không khổ như bố mẹ, người bỏ về xuôi, kẻ vượt biên giới làm ăn mà đói khổ vẫn theo từng bước chân, bám theo cả cái bóng.

 

Sáng sớm, mặt trời còn chưa vượt tầm núi, Phứ dắt Dính qua chào trưởng bản Páo. Ông Páo lặng yên. Ông không can được Phứ, núi rừng này lại mất đi một người con nữa rồi. Ông đeo vào tay Dính chiếc vòng màu đỏ có buộc một đồng bạc nhỏ, dặn Dính đừng bao giờ để mất. Ông ôm nó vào lòng, miệng khẽ hát Khống mí nhùa cho nó nghe lần cuối. Chẳng biết bao giờ ông và Dính mới lại gặp nhau: Em có biết nghe không/chị đang ru em/và nói những lời hát lạc quan lắm…

Ông Páo hy vọng những ký ức của quê mình sẽ không bao giờ phai đi trong cái đầu nhỏ bé của nó.

 

***

 

Nhà Uyên ở Na Pha, Quảng Tây từ nhiều đời nay. Ngày xưa cả nhà làm nương, làm ruộng, dệt vải, hái thuốc, nuôi vài ba con trâu, con gà. Giờ đường xá thuận lợi hơn, bố mẹ Uyên cất hàng sang bán các chợ huyện của Hà Giang. Uyên biết mình không phải con đẻ của nhà họ Châu, cô được đưa sang đây làm con nuôi từ nhỏ, đổi tên, đổi họ, đổi cả nếp sống. Từ đó đến giờ cũng phải mười mấy năm rồi. Mọi người trong nhà, trong làng không bao giờ nhắc đến chuyện đó. Sau khi đón Uyên về mấy năm thì mẹ Uyên có thai, sinh được một bé trai kháu khỉnh. Bà coi Uyên như con đẻ, yêu thương và chăm lo cho hai chị em hết mực. Ngày về ở với nhà họ Châu, Uyên không có nhiều ký ức về nơi mình sinh ra, chỉ nhớ ở đó cũng có núi rừng bạt ngàn như Na Pha, nơi đó chắc cũng gần đây thôi, có thể bên kia quả núi, hay ngay huyện sát kề.

 

Năm nay, Uyên sẽ thi đại học, cô chọn trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn ở Việt Nam. Học phí các trường đại học ở Quảng Tây quá cao, gia đình Uyên không đủ điều kiện nuôi cô ăn học gần nhà. Cô chọn học ở Việt Nam một phần vì vấn đề kinh tế, nhưng quan trọng hơn, Uyên cảm thấy có một sức hút nơi mảnh đất xa xôi ấy, cứ như có một lời hẹn nào từ trước đó khiến cô muốn đến, muốn ở và trải nghiệm tại Việt Nam. Uyên phải chuẩn bị thủ tục, giấy tờ sang Việt Nam cả tháng nay. Mẹ cứ khóc suốt, Uyên thương mẹ lắm, cô đi học xa nhà, sẽ ít khi về, không có ai đỡ đần mẹ việc nhà, làm ruộng nương hay kéo sợi bên khung dệt vải. Cô không được cùng bố lên rừng hái lá thuốc, cùng em trai lùa đàn trâu về chuồng khi chiều tàn. Những con đường do băng rừng nhiều mà thành lối sẽ vắng bóng cô gái nhỏ vui đùa với bạn bè. Từng con suối, ngọn đồi cũng sẽ nhớ Uyên nhiều lắm.

 

Đi qua cầu Hồ Kiều nối giữa hai tỉnh Lào Cai và Vân Nam là sang đất Việt. Đi trên những cung đường quanh co, một bên là vách núi, một bên là vực thẳm, Uyên cảm thấy khung cảnh này, mới thân thuộc làm sao.

 

Nhập học, Uyên không ở trong ký túc xá. Căn phòng cô ở nằm trên cùng của một tòa nhà tám tầng. Ở đây cô có thể ngắm hoàng hôn đỏ rực nơi chân trời mỗi sáng. Ban đầu Uyên không quen lắm với không khí ngột ngạt của nơi thành thị, chúng khiến cô nhớ tới ngôi nhà đầy bóng cây ở Na Pha.

 

Đêm đầu tiên ngủ tại Việt Nam, cô lại mơ thấy giấc mơ kỳ lạ về người đàn ông cầm khèn trên đỉnh núi. Chỉ khác lần này khi cô chạy tới người ấy không biến mất nữa. Ông ta cầm tay Uyên rất nhẹ, dù đứng sát gần mà không hiểu sao không thể nhìn rõ khuôn mặt của người đó, chỉ thấy có nét gì đó thân quen, gần gũi lắm. Người đàn ông dắt Uyên vượt qua thành phố nhanh như gió, băng qua rừng, đi qua những con đường uốn lượn, những nương ngô xanh mướt, leo lên con dốc nhỏ hẹp, lởm chởm đá, cả một vùng rộng lớn chỉ có đá với trời. Một bãi đất hiện ra bên vách núi với những dải vải màu trắng trải dài khắp nơi, đứng ở đây, có thể phóng tầm mắt nhìn ra ngút ngàn ruộng nương. Người đàn ông buông tay Uyên và bước về phía trước, ông ta cứ bước mãi, bước mãi. Uyên chạy theo, hét lớn: “Cẩn thận, vách núi”. Tiếng Uyên bị gió tạt đi, cả thân hình nhỏ bé cũng bị gió cản lại không bước về phía trước được. Người đàn ông rơi xuống vách núi. Uyên hốt hoảng choàng dậy giữa đêm, căn phòng bị bủa vây bởi bóng tối. Uyên lần đầu giường với lấy điện thoại để bật sáng. Nhiều đêm sau đó giấc mơ ấy cứ lặp lại trong giấc ngủ của cô. Hình ảnh một vùng núi đá bao la phủ sương trắng xóa, người đàn ông cầm cây khèn vẫy gọi cứ ám ảnh, gieo vào tâm trí Uyên sự tò mò.

 

– Uyên à, có rảnh không? Anh cho xem cái này. – Anh Hùng ở phòng đối diện ngó đầu vào phòng hỏi.

 

– Có chuyện gì vậy anh? – Uyên hỏi, giọng cô nói tiếng Việt vẫn lơ lớ, dù đã học ở đây gần hai năm rồi.

 

– Anh vừa đi Hà Giang về, có quà cho em này. – Hùng vừa nói, vừa giơ cái túi thổ cẩm màu sặc sỡ lên.

 

– Em cảm ơn anh. Anh đi chơi vui không?

 

– Vui em ạ, anh chụp được nhiều ảnh lắm. – Hùng đưa điện thoại cho Uyên xem.

 

Uyên lướt tay trên màn hình cảm ứng xem ảnh, những con đường quanh co, những khúc cua, xe đổ đèo, leo dốc đến chóng mặt, những dãy núi đá dần hiện ra trước mặt. Một bên đường vách núi dựng đứng, một bên là vực sâu thẳm. Mồ hôi Uyên toát ra, gió từ cửa sổ ùa vào khiến cô lạnh sống lưng. Mỗi bức ảnh lướt qua mở ra những hình ảnh cô bắt gặp trong giấc mơ của mình. Uyên tự hỏi liệu có mối liên hệ nào giữa cô với vùng đất này hay không. Tay cô nắm chặt chiếc vòng màu đỏ có gắn đồng xu nhỏ. Cô đeo nó từ khi còn nhỏ, mẹ Uyên dặn không được đánh mất, vòng thiêng này sẽ mang lại bình an và may mắn cho cô. Mỗi khi sợ hãi, Uyên lại nắm chặt chiếc vòng để xua đi sự hoảng loạn, như một niềm tin cho một sức mạnh bảo vệ vô hình nào đó.

 

– Em có sao không Uyên? – Hùng đặt tay lên vai Uyên lay nhẹ.

 

– Em không, ảnh này anh chụp ở đâu vậy?

 

– Ở cao nguyên đá Đồng Văn, tuần tới anh sẽ trở lại đó để làm một phóng sự về vấn đề thiếu nước sinh hoạt của bà con nơi đây. – Hùng trả lời, ánh mắt anh lo lắng khi thấy Uyên có vẻ hốt hoảng kỳ lạ.

 

Uyên ngồi bần thần một lúc lâu. Hùng lấy làm lạ nhưng không hỏi gì thêm. Hùng về phòng không quên bảo Uyên:

 

– Trên đấy đẹp lắm, tuần sau em rảnh thì đi cùng bọn anh cho vui.

 

– Vâng. – Uyên trả lời lấy lệ, đầu óc cô đang quay cuồng với những suy nghĩ mông lung về một vùng đất lạ mà quen.

 

Những giấc mơ về ngày một nhiều hơn, có khi trong giấc mơ, Uyên còn nghe thấy tiếng hát ru, cô không nghe rõ và hiểu hết được lời bài hát, nhưng lại thấy giai điệu này thân quen lắm.

Mất gần một ngày đường Uyên mới đặt chân lên cao nguyên đá Đồng Văn. Cả đoàn phải thuê xe máy để vào được đến nơi Hùng dự định thực hiện phóng sự. Con đường ngoằn ngoèo, mấp mô dẫn lên bản Hồng Ngài, mấy tay lái miền xuôi vào cua không vững, ngã lên ngã xuống. Cả đoàn dừng trên bãi đất bên vách núi, nơi dân bản trải những dải vải lanh trắng xóa. Uyên đứng bên vách núi, đón những cơn gió đại ngàn ùa về, thấy trong lòng thanh thản lạ kỳ. Đêm đó, ngủ ở nhà trưởng bản, Uyên không còn mơ thấy giấc mơ về người đàn ông vận trang phục đen, tay cầm khèn đứng bên vách núi nữa.

 

 

Ngọc Anh (nguồn:vannghe.hagiang.gov.vn)

LEAVE A REPLY