Khám phá miền trầm tích cực Bắc

0
3756

Cao nguyên đá Đồng Văn Hà Giang – tạo hóa ban tặng cho miền cực Bắc xa xôi hội tụ đủ các yếu tố: Tính tự nhiên, có ranh giới rõ ràng, trong đó chứa đựng tập hợp của các di sản địa chất  có giá trị nghiên cứu khoa học, hài hòa với cảnh quan thiên nhiên, chứa đựng các giá trị về đa dạng sinh học, khảo cổ, lịch sử, văn hóa và xã hội để phát triển kinh tế địa phương thông qua phát triển du lịch, dịch vụ. Chính từ đạt được các điều kiện như vậy, Cao nguyên đá Đồng Văn, tháng 10 năm 2010 được UNESCO công nhận là Thành viên chính thức của Mạng lưới Công viên địa chất (CVĐC) Toàn cầu.

 

kham pha mien tram tich cuc bac 1

 

Cung đường lên Cao nguyên đá

 

Kỳ I: ” Vườn hoa đá” Thành Ma Tủng

 

Với sự nỗ lực của tỉnh Hà Giang, đặc biệt là 4 huyện trong CVĐC Toàn cầu, sau 4 năm vượt lên mọi khó khăn thách thức như: Chưa có kinh nghiệm trong lãnh đạo, quản lý của các cấp, sự nhận thức, nghĩa vụ, trách nhiệm, công tác bảo tồn và phát triển các giá trị di sản của cộng đồng trong vùng Công viên chưa cao. Bên cạnh đó cơ sở hạ tầng , đặc biệt là thông tin và hạ tầng phục vụ cho du lịch, dịch vụ còn hạn chế, ảnh hưởng đến thu hút đầu tư và phát triển của CVĐC… Sự đánh giá và công nhận lại CVĐC Toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn của UNESCO năm 2014 là sự khẳng định thành tựu to lớn của Chính quyền và đồng bào các dân tộc Hà Giang, và của cả nước; đồng thời thể hiện rõ uy tín của Việt Nam với sự cam kết thực hiện tốt quy tiêu chí của Mạng lưới CVĐC Toàn cầu. Sự phát triển của Cao nguyên đá Đồng Văn không dừng lại ở sự công nhận của quốc tế mà nó luôn được tiếp tục khám phá, tìm kiếm bổ sung những tiềm năng bí ẩn mà con người chưa có điều kiện khám phá theo chiều địa – văn hóa…  Chính vì vậy CVĐC Cao nguyên đá Đồng Văn đã được Viện Địa chất ( Viện Hàn lâm Khoa học – Công nghệ Việt Nam) tiếp tục xây dựng đề tài: Xác định một số giá trị nổi bật của lưu vực sông Nho Quế và thử nghiệm tôn tạo một số loại hình di sản địa – văn hóa trên Cao nguyên đá, phục vụ cho phát triển du lịch và dân sinh tầm nhìn 2030.

 

kham pha mien tram tich cuc bac 2

 

Bản làng sau những vách đá tai mèo

 

Sự cấp thiết của đề tài trong năm 2015 đã thôi thúc Đoàn công tác của Viện Địa chất, do phó Giáo sư, tiến sĩ khoa học Vũ Cao Minh, nguyên Phó Viện trưởng Viện Địa chất cùng cán bộ Viện lên Hà Giang trong những ngày cận kề Tết Nguyên đán Ất Mùi, phối hợp với Ban quản lý (BQL) Công viên địa chất Toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn, do tiến sĩ Nguyễn Lê Huy, Trưởng ban cùng cán bộ đi lên các huyện Đồng Văn, Mèo Vạc khám phá, tìm kiếm di sản địa – văn hóa, tạo điểm nhấn du lịch trong vùng.

 

Đầu tháng 2 ở Hà Giang cái rét như kim châm vào da thịt. Những đợt  gió bắc vẫn tràn về trên Cao nguyên đá xuống đến 5 độ C. Mưa phùn. Sương mù bao phủ khắp núi… Đường dốc quanh co, trơn như mỡ đổ… Ấy vậy mà Đoàn công tác chúng tôi 6 người vẫn ba lô, túi nải hồ hởi lên đường. Vượt qua cổng trời Quản Bạ, Cán Tỷ, cổng trời Sà Phìn, chúng tôi tới dinh thự vua Mèo Vương Chính Đức ở xã Sà Phìn ( Đồng Văn), được xây dựng từ những năm 40 của thế kỷ trước, sau này con trai  là Vương Chí Sình nối nghiệp cha làm thủ lĩnh cả một vùng Đồng Văn rộng lớn. Được sự giúp đỡ chỉ dẫn của lãnh đạo xã Sà Phìn, chúng tôi đi bộ hơn 2 cây số, vượt qua những con đường mòn cheo leo đá sắc nhọn gập gềnh, vắt qua các sườn núi đá tai mèo đến thôn Thành Ma Tủng – điểm tìm kiếm, khám phá di sản địa chất mới làm điểm nhấn phục vụ cho hoạt động du lịch vùng. Thôn Thành Ma Tủng 100% là đồng bào Mông sinh sống. Trước mắt chúng tôi một miền đá xám nhấp nhô trùng trùng, rộng khoảng 5- 6 ha, những bãi đá kiến tạo đủ hình đủ vẻ, chỗ thì giống như đàn lợn đang nghếch mõm lên đòi ăn; nơi thì có khối đá giống như một con sư tử đang quỳ phục rình mồi. Chỗ này hình một bông hoa khổng lồ in trên trời xanh. Chỗ kia dáng một chú thỏ chồm lên tinh nghịch. Hay một chú hải cẩu nằm úp bụng  vẻ ngơ ngác quay đầu lại tìm bạn… Những hang nhỏ trong các bãi đá trông như miệng những chiếc chum, thùng … ai cũng phải thốt lên: – Đẹp quá! Hiếm quá! Mấy trăm triệu năm trời mới ban tặng cho nơi này…

 

Tôi hỏi ông Minh:

 

– Tôi được biết từ những năm 90, ông là người có nhiều năm giúp Hà Giang tìm kiếm nguồn nước ăn cho đồng bào và khám phá xác định trầm tích địa chất trên cao nguyên đá, sao bây giờ ông mới biết bãi đá này?

 

Ông Minh cười rất vui rồi trả lời: – Cao nguyên đá Đồng Văn thật rộng lớn, nhưng lại khô hạn đến 8 tháng/ năm. Dạo đó tôi và các đồng nghiệp chỉ có mục đích đi tìm nguồn nước, bắt đầu từ trong các khe lạch, mó nước… từ đó khám phá nguồn nước ngầm trong lòng đất và tìm lợi thế của địa hình để xây hồ treo chứa nước. Và chúng tôi đã thành công phát hiện được một số nguồn nước ngầm và xác định được các vị trí để tỉnh, huyện xây hồ treo chứa nước cho đồng bào dùng. Ông Minh vừa đi vừa tâm sự: Từ khám phá, tìm kiếm nguồn nước chính là tiền đề cho các nhà khoa học khám phá tìm kiếm những giá trị trầm tích, địa mạo ở Cao nguyên đá Đồng Văn. Chúng tôi đã đi tìm kiếm khám phá dọc theo quốc lộ 4C và tỉnh lộ,  mà tập trung ở khu vực Đồng Văn đi Lũng Cú, Ma Lé; Đồng Văn đi qua đỉnh Mã Pì Lèng sang huyện Mèo Vạc, đã phát hiện trên Cao nguyên đá Đồng Văn đa số là là loại đá vôi sản phẩm của trầm tích biển. Điều đó đã chứng minh Cao nguyên đá Đồng Văn  xa xưa là biển cả, mảnh đất này được hình thành là sự vận động kiến tạo của vỏ trái đất . Các hóa thạch trên Cao nguyên đá Đồng Văn rất đa dạng trong đó có khoảng 26 giống loài chỉ tìm thấy trong CVĐC mà chưa phát hiện ra ở nơi nào trên thế giới. Trong đó có hóa thạch tiêu biểu như: Hóa thạch Tay cuộn ở xã Ma Lé , hóa thạch Bọ ba thùy ở núi Rồng xã Lũng Cú  (Đồng Văn); hóa thạch Huệ biển ở xã Lũng Pù, Cán Chu Phìn ( huyện Mèo Vạc) vv…

 

Nghe ông Minh nói, tôi như bị thôi miên trước những di sản trời cho quý hơn cả vàng trên quê hương tôi, mà bao đời nay không ai biết được. Chúng tôi nhìn những bãi đá chập chùng, chỗ đá tai mèo, chỗ đá nhẵn thín, tròn trịa, chỗ đá đen như da trâu, chỗ đá bàng bạc…nham nhở, dựng thành… nó như vô tích sự chẳng giúp gì cho con con người; như một vật cản trở vì quê tôi toàn đá, cây ngô, cây lúa, cây rau cũng phải bám vào từng kẽ đá mà sống vươn lên. Giờ tôi đã hiểu quê tôi bắt đầu được đá trả nợ rồi.. Và tôi cảm thông hơn, càng yêu quý hơn các nhà khoa học Việt Nam, trong đó có Phó Giáo sư, tiến sĩ Vũ Cao Minh – ông đã lăn lộn vất vả với Hà Giang hơn chục năm trời để khám phá ra các nguồn nước giúp đồng bào tôi có nước sản xuất, có nước sinh hoạt và rồi đưa đồng bào tôi lên tầm quốc tế từ Cao nguyên đá này.

 

Nhìn ông Vũ Cao Minh vẫn dò dẫm đạp lên đá tai mèo, đầu trần không áo mưa, ống quần bùn bắn lên rất bẩn. ở cái tuổi cận 70, vậy mà ông vẫn đi núi đá này đến bãi đá khác để xác định cho đúng về giá trị trầm tích của di sản, chọn điểm nhấn cho phát triển du lịch trên cao nguyên đá. Như để giải thích cho tôi về sự phát hiện mới bãi đá di sản địa chất, đi cùng tôi, anh Đào Văn Luân, một sĩ quan biên phòng biệt phái kiêm phó Bí thư Đảng ủy xã Sà Phìn bảo: Chính bãi đá này biết được là do dân họ báo cho xã. Khi nhận được tin chúng tôi đến ngay và thật sự choáng ngợp trước những bãi đá san sát với nhiều hình thù kỳ diệu mà thiên nhiên ban tặng cho con người. Lãnh đạo xã chúng tôi họp ngay và thông báo cho dân không được vào đó để khai thác đá dưới bất cứ hình thức nào. Anh Luân bỗng dừng lại nét mặt hơi buồn, giọng nói có phần xót xa:

 

– Nghe đâu một doanh nghiệp xin cấp trên cho khai thác bãi đá này làm đá xây dựng rồi. Nếu vậy thì tiếc quá! Hàng triệu năm sau cũng không có bãi đá đẹp như thế này nữa…

 

Câu chuyện giữa tôi và anh Luân đã lọt vào tai ông Minh. Ông Minh nói to:

 

– Sao? Anh nói sao? doanh nghiệp xin khai thác bãi đá này ư? Trời. Không được. Tôi nhất định khi về tỉnh sẽ kiến nghị với các cấp lãnh đạo. Bãi đá này mất đi không phải chỉ của Hà Giang mất mà là của cả nước bị mất. Thế giới bị mất một vật báu!

 

May quá ! – Đây mới chỉ là tin. Còn thực tế bãi đá gần 6 ha vẫn nguyên xi chưa có ai đập phá. Đấy là cái may cho chúng ta. Và tôi nghĩ nhất định mình về tỉnh cũng sẽ có ý kiến ngoài bài viết này…

 

Tình cờ trong bữa ăn trưa ở khu chợ Sà Phìn, tôi gặp hai bạn trẻ là người Đức. Một trai, một gái. Người con trai tên Ha Hin, là sinh viên năm cuối một trường đại học, năm nay 24 tuổi. Cô bạn gái là người yêu của anh. Họ bay sang thành phố Hồ Chí Minh rồi qua bè bạn du lịch ra Hà Nội và lên Hà Giang. Tôi hỏi Ha Hin:

 

– Sao anh biết Hà Giang nơi tận vùng cực Bắc Việt Nam, mà lên?

 

– Được bạn bè ở bên Đức giới thiệu. Anh trả lời. Họ nói con người Việt Nam thân thiện, hòa bình,. Việt Nam an ninh tốt.  Sang thành phố Hồ Chí Minh rồi ra Hà Nội, tôi được bạn bè cho biết Hà Giang nơi cực Bắc Việt Nam có CVĐC Toàn cầu rất đẹp, đẹp hơn nhiều công viên khác trên thế giới. Quả thực lên đây mới thấy cảnh vật đá núi Hà Giang đẹp lạ lùng, vẫn dáng vẻ hoang sơ. ở Đức không có. Giống như một bức tranh kiệt tác mà thiên nhiên tặng cho các bạn. Đồng bào ở đây hiền lành, cởi mở. Chỉ tiếc là họ không biết tiếng Anh để nói chuyện. Về nước tôi nhất định sẽ rủ bạn bè sang thăm Việt Nam lần nữa.

 

Trong không khí cởi mở, chân tình của bạn bè, chúng tôi mời hai bạn Đức chén rượu ngô Hà Giang được nấu từ men lá của đồng bào. Các bạn Đức không từ chối nhận lời uống ngay. Chúng tôi mời thêm chén nữa thì Ha Vin bảo: Còn phải đi xe máy thăm một số nơi trên cao nguyên như Cột cờ Lũng Cú, Đỉnh Mã Pì Lèng – Đệ nhất hùng quan Việt Nam vv…

 

Chúng tôi bắt tay nhau rất chặt, thay cho lời mời các bạn quốc tế hẹn gặp nhau một ngày nào đó trên Cao nguyên đá. Và xin được cảm ơn người bạn Đức, anh đã nói hộ nỗi lòng của chúng tôi – những người đang đi khai phá các giá trị di sản địa – văn hóa trên Cao nguyên đá Đồng Văn…

 

Kỳ II: Bức phù điêu nơi “Tột Bắc” Séo Lủng?

 

Lũng Cú là điểm khám phá nằm trong chương trình của Đoàn công tác. Chúng tôi vượt qua xã Lũng Táo rồi Ma Lé là đễn xã Lũng Cú( Đồng Văn). Trời vẫn mưa phùn. Xe đi trong màn sương mù dày đặc. Từ xa nhìn về hướng Bắc đã lộ ra khoảng trời sáng nhờ, trước mắt chúng tôi là cột cờ Tổ quốc trên núi Rồng thiêng liêng, lá cờ đỏ sao vàng phần phật tung bay.

 

kham pha mien tram tich cuc bac 3

 

Cột cờ Lũng Cú

 

Nơi đây đã chứng kiến thời Bắc thuộc, sử  sách truyền lại sau khi chủ động tấn công ngăn quân xâm lược phương Bắc sang tận Ung Châu, Tướng quân Lý Thường Kiệt trở về qua biên ải hội quân, ông cắm một lá cờ xuống đỉnh núi Rồng và nói đại ý:  Đất này là của cha ông ta. Nơi đây là máu thịt của Tổ quốc, dù phải đổ máu, chúng ta phải giữ gìn. Còn Vua Quang Trung sau khi đại phá quân Thanh, đất nước yên bình, ông truyền cho một chiếc trống đồng đưa lên Lũng Cú để đồng bào các dân tộc đánh trống mở hội vui xuân.

 

Trong những năm qua sau khi cột cờ Tổ quốc ở Lũng Cú được xây dựng trang nghiêm trên đỉnh núi Rồng, hầu hết các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội  và đồng bào cả nước, kiều bào ở nước ngoài, người nước ngoài đã lên thăm cột cờ Lũng Cú, biểu tượng chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam nơi cực Bắc biên cương. Hai bên dưới chân núi Rồng thật ngẫu nhiên có 2 chiếc hồ lớn nước không bao giờ cạn. Một bên là làng gồm Lô Lô Chải, chủ yếu đồng bào Lô Lô ; một bên là làng Thèn Pả , 100% đồng bào Mông sinh sống. Hai làng bà con đã sống hàng ngàn đời ở đây, họ bám đất, bám làng để cấy lúa, trồng ngô xây dựng cuộc sống và bảo vệ biên cương Tổ quốc. Núi Rồng, hai hồ nước dưới chân núi luôn gắn liền với truyền thuyết có một con Rồng khi xuống trần gian thấy nhân dân vùng Lũng Cú đói khổ, không có nước sinh sống, bản làng sơ xác, Rồng đã để lại đôi mắt làm hồ chứa nước cứu sinh cho đồng bào. Núi Rồng, hồ nước hôm nay đã trở thành một điểm du lịch lịch sử, văn hóa thiêng liêng và hấp dẫn trên Cao nguyên đá Đồng Văn.

 

Sau khi trao đổi nội dung công việc với lãnh đạo xã Lũng Cú, các anh rất vui và cử người đi cùng, đưa chúng tôi đi khám phá những điểm di sản mới. Điểm đầu tiên là đến một hang gần dưới chân Cột cờ Lũng Cú. Phải leo dốc gần như dựng đứng khoảng hơn 20 mét trong trời mưa phùn và đường trơn, cỏ rậm lẫn đá từ xa chúng tôi đã thấy những vệt khói lơ lửng bay lên. Anh cán bộ xã bảo:

 

– Hang đấy. Miệng cửa hang đấy!

 

Chúng tôi hăm hở trèo lên. Trông thì gần nhưng trèo thì lâu đến toát cả mồ hôi. Té ra không phải miệng hang mà là các kẽ đá bị nứt, hơi nước trong hang nóng bay lên, gặp không khí lạnh ngưng tụ thành khói… Còn miệng hang thì lại ở phía dưới cách đó gần 10 mét. Chúng tôi lần xuống và vào được hang. Cửa hang rậm rạp cây cỏ lút người, rộng chừng hơn 2 mét, hơi tối, nhưng cũng đủ nhìn thấy những nhũ đá rất đẹp hiện ra. Dưới lòng sâu của hang tiếng nước chảy rầm rầm… Anh Vàng Mí Lùng , dân tộc Mông, người con của thôn Thèn Pả xã Lũng Cú, kỹ sư nông nghiệp, cán bộ phòng địa chính xã đi cùng nói với chúng tôi:

 

– Hang này người ta phát hiện từ lâu nhưng chẳng ai dám xuống, sợ  nguy hiểm. Vào mùa nước lên,  đứng cửa hang đã thấy tiếng nước reo ầm ầm hướng chảy ra sông Nho Quế  giáp với Trung Quốc. Nếu khám phá mà đưa hang này vào làm du lịch thì thật tuyệt rồi.

 

Chúng tôi vào sâu trong hang bỗng thấy ấm hẳn người lên. Có người phải cởi áo khoác. Tiến sĩ Cao Vũ Minh ( Viện Địa chất Việt Nam) bảo: Chúng ta đặt tên cho hang này là Hang Ấm. Được không? Tất cả mọi người cùng cười và tâm đắc câu nói đó: Hang Ấm.

 

Mọi người dành thời gian khám phá Hang Ấm nhưng không đi sâu vào được vì thiếu ánh sáng. Hang đủ rộng cho nhiều người vào thăm. Có nhiều nhũ đá với nhiều hình thù khác nhau. Nếu có đèn điện chắc chắn Đoàn sẽ vào sâu hơn để khám phá bí ẩn mới của Hang Ấm. Nơi đây theo dự kiến của Viện Địa chất  và BQL Cao nguyên đá Đồng Văn sẽ là điểm nhấn du lịch rất tốt ngay dưới chân cột cờ Lũng Cú.

 

Theo chân anh Vàng Mí Lùng, Đoàn chúng tôi tiếp tục đi vào thôn Séo Lủng – mảnh đất “ Tột Bắc” của Tổ quốc Việt Nam. Con đường đến thôn Séo Lủng giờ đã được mở rộng rải nhựa từ Thèn Pả  vào khoảng 3 cây số. Séo Lủng đây rồi.! Mảnh đất “Tột Bắc” của Tổ quốc thiêng liêng đây rồi! Trước đây chúng tôi chỉ được ngắm trên bản đồ của Tổ quốc, giờ mảnh đất thiêng liêng , máu thịt Tổ quốc truwocs mặt chúng tôi. Đi thêm khoảng 1 cây số đường đất nữa chúng tôi đến sát biên giới phần nhô lên cao như chóp nón trên bản đồ Việt Nam là đây. 5 ngọn núi nối liền nhau trải dài dọc biên cương Tổ quốc, giáp với đất Trung Quốc, ngọn núi to hơn cao hơn người dân nơi đây gọi là núi Mẹ. Núi Mẹ  uy nghiêm mà mộc mạc, bao dung bên những núi con trùng điệp, làm phên dậu, lũy thép che chắn cho đất nước – Tổ quốc yêu thương đã mấy ngàn năm. Lòng chúng tôi bồi hồi xao xuyến. Trái tim đập rộn ràng…Ai cũng thấy niềm tự hào thiêng liêng khi được đứng tại nơi Tột Bắc – Séo Lủng này. Dưới chân chúng tôi đứng là con sông Nho Quế sâu hun hút, vách núi dựng đứng chảy từ Trung quốc về qua Mèo Vạc Hà Giang sang huyện Đồng Văn rồi xuôi về vùng sông Gâm, qua huyện Bắc Mê. Biên giới Việt – Trung ở Séo Lủng được phân chia bởi con sông Nho Quế  dựng thành vách đá lởm chởm, trơ chọi. Bên kia biên giới là huyện Phú Linh (Trung Quốc). Những năm qua Trung quốc đã ngăn sông Nho Quế làm thủy điện, lòng sông chảy về đất Việt Séo Lủng cạn dần trơ gềnh thác đá. Bên này là  xóm Séo Lủng, xã Lũng Cú huyện Đồng Văn – Hà Giang. Anh Vàng Mí Lùng tâm sự:

 

– Ngày còn nhỏ, anh và các bạn thường xuống sông Nho Quế tắm, bắt cá, bắt chim, bẫy thú rừng, ngắm nhìn những đàn khỉ chí chóe chuyền cành trong những khu rừng rậm rạp, tiếng chim kêu râm ran, phong cảnh thật đẹp. Từ khi Trung Quốc khai thác chặn sông Nho Quế, rừng cây kạn kiệt, nguồn nước cạn dần, cảnh, chim, thú cũng vắng bóng, trông thật cô đơn…Thôn Séo Lủng có 47 hộ chủ yếu đồng bào Mông, trên 50 % số hộ còn nghèo. Sản xuất của bà con chủ yếu trồng ngô vì thiếu nước. Nước ăn trước đây phải xuống lấy tận dưới sông Nho Quế đi xa 3- 4 cây số. Bà con Séo Lủng  bao đời nay vẫn bám làng để sống và bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc.

 

Đứng ở Séo Lủng, tôi bỗng nhớ đến bài viết “ Mỏm Tột Bắc” của cố nhà văn Nguyễn Tuân khi ông lên Lũng Cú năm 1960. Nhà văn đã treo tấm bản đồ Việt Nam lên tường nhà một gia đình,  ông lấy một sợi dây điểm đặt chính Bắc từ mỏm Séo Lủng thả theo phương thẳng đứng, điểm cuối của sợi dây trùng điểm chót phía Nam Mũi Cà Mau. Ông thốt lên: Sao trùng khít đến thế. Đây mới là điểm Tột Bắc.

 

Trong cuộc đời làm báo của mình, tôi cũng đã được đến các điểm : Tột Đông Bắc – Trà Cổ ở Móng Cái ( Quảng Ninh); điểm Sa Vĩ Tột phía Nam ở Cà Mau. Sự liên tưởng  ấy tôi nghĩ đến nếu ở Tột Bắc xóm Séo Lủng – Lũng Cú – Hà Giang mà xây dựng được bức Phù Điêu điểm tột cùng biên giới Quốc gia phía Bắc như các tỉnh trên thì tự hào, hạnh phúc biết bao. Bức phù điêu ấy có hình ảnh người chiến sĩ bộ đội cùng dân quân và đồng bào các dân tộc đứng hiên ngang dưới lá cờ Tổ quốc, khẳng định chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam nơi Tột Bắc. Và đây sẽ là điểm du lịch lịch sử – văn hóa hấp dẫn nhất cho đồng bào ta đến thăm với niềm tự hào dân tộc. Ý nghĩ ấy của tôi được các thành viên trong Đoàn công tác khen rất hay, có ý nghĩa lịch sử, chính trị, văn hóa và là một thành công của Đoàn công tác trong chương trình khám phá điểm “ nhấn” di sản địa – văn hóa lần này. Mong muốn tỉnh Hà Giang cũng như các cấp có chức năng ở Trung ương ủng hộ.