Lên Cao nguyên đá Đồng Văn

0
3344

Sau Hội thảo báo Đảng các tỉnh trung du, miền núi phía bắc lần thứ XVI (vòng 2) tại Hà Giang vào trung tuần tháng 4, chúng tôi có cuộc hành trình lên cao nguyên đá Đồng Văn được chiêm ngưỡng vẻ đẹp kỳ vĩ của thiên nhiên, con người tạo tác. Cảm phục người dân “Sống trên đá” đã bền bỉ, cần mẫn lao động, vượt lên mọi khó khăn, thách thức khắc nghiệt của thiên nhiên.

 

Được thông báo trước của đồng nghiệp Báo Hà Giang lên Cao nguyên đá Đồng Văn phải đi sớm mới kịp về trong ngày, nên đoàn báo Đảng các tỉnh trung du, miền núi phía bắc và chúng tôi phải xuất phát từ thành phố Hà Giang lúc 5 giờ sáng. Mỗi đoàn đều được trang bị đồ ăn, thức uống bữa sáng trên xe ô tô để không mất thời gian và một phóng viên làm hướng dẫn viên.

 

len cao nguyen da dong van

 

Những người dân cao nguyên đá luôn cần mẫn, bền bỉ, cần cù lao động trên mảnh đất khô cằn bạt ngàn đá.

 

Qua mỗi chặng đường, chúng tôi đều được phóng viên Báo Hà Giang Đặng Kim Tiến giới thiệu rành mạch… từng thôn, bản. Trời mù sương lại thêm con đường quanh co, liên tục cua tay áo nên phải mất hơn một tiếng đồng hồ chúng tôi mới đặt chân lên đến cổng trời huyện Quản Bạ. Hà Giang là xứ sở có nhiều cổng trời nhưng chỉ riêng Quản Bạ là được ghi danh và ghi bằng tiếng Anh “heaven gate” (dịch sang Tiếng Việt là: Cổng thiên đường). Nơi đây bắt kỳ ai đi qua là khách trong nước, quốc tế đều dừng lại để được “Đứng trên cổng trời Quản Bạ/Tưởng mình cưỡi gió ngắm trần gian” như câu thơ của ai đó đã viết. Quả vậy chẳng sai, thị trấn Tam Sơn của huyện Quản Bạ hiện ra trong làn sương mờ ảo, bao bọc bởi núi đá vôi lởm chởm là một màu xanh mơn mởn của núi đôi Cô Tiên tròn trịa theo dạng bát úp. Quản Bạ là huyện cửa ngõ của Cao nguyên đá với điểm nhấn nhìn trên cao, phong cảnh hùng vĩ mở ra bằng vẻ đẹp lãng mạn, tên gọi núi đôi được người dân nơi đây gọi bằng cái tên gợi tình “vú cô Tiên Quản Bạ”.

 

Chúng tôi miễn cưỡng lên xe trước vẻ đẹp quyến rũ nơi đây, tiếp tục hành trình về vùng lõi của Cao nguyên đá và ai cũng thắc mắc: Không hiểu sao tạo hóa lại ban tặng cho vùng đất này núi đôi đều đặn, căng tròn như ngực cô gái dân tộc sặc sỡ váy hoa, lúng liếng cặp mắt, má rực hồng đang tuổi thanh xuân tung tăng trên đường xuống chợ như vậy…? Trên 100km tiếp tục hành trình đến thị trấn Mèo Vạc, xe qua những bãi đá miên man, điệp điệp đá, trùng trùng đá… Những núi đá xám ngắt, khốc liệt kéo dài hàng chục cây số. Con đường uốn lượn hình chữ M qua “Hoang mạc đá Sùng Trải” địa danh: Lũng Pìn, Sủng Mảng, Sủng Trà, Tả Lủng đá chất ngất, lăn lóc… đá nhưng gợi lên cho mọi người một cảm giác cằn cỗi, của vùng đất chết và con người “Sống trong đá, chết vùi trong đá”. Cho nên câu chuyện người dân nơi Cao nguyên đá được “giải khát” vẫn còn xa như một giấc mơ. Để có được nước dùng tối thiểu cho sinh hoạt, người dân có nơi phải đi vài chục cây lấy về từ những hồ treo chứa nước mưa, hồ cạn kiệt thì phải mua nước nơi khác chở về. Ngô, thóc, gà, lợn… thì có thể trồng trong hốc đá, nuôi trên đá nhưng không thể vắt đá ra nước được.

 

len cao nguyen da dong van 1

 

Trên cao nguyên đá Đồng Văn, các ngôi nhà đều được rào bằng hàng rào đá.

 

Trên đường đi hình ảnh ấn tượng nhất chúng tôi là từng đoàn người kìn kìn xuống chợ ai cũng cõng 2 – 3 cái can để khi về lấy nước, ngựa cũng thồ can bên cạnh bao hàng vào từng đoàn xe Jin 130 được đóng téc để chở nước phục vụ bà con các bản làng xa.

 

Từng có 5 năm sống với bà con vùng cao nguyên đá nên anh Tiến biết rất rõ về hàng rào đá, dẫn tôi đi xem anh Tiến kể: Rào đá bao quanh các ngôi nhà nhìn có vẻ rất giản dị, bình thường nhưng làm rào đá thì không hề đơn giản. Để có được hàng rào hoàn chỉnh bao quanh một ngôi nhà và mảnh đất rộng từ 200 – 300 mét vuông có thể một gia đình cùng với người thân phải hàng tháng trời túc tắc nhặt những mảnh đá vỡ quanh nhà về để xếp lại thành hàng rào. Nhìn vào bức rào đá bao quanh một gia đình có thể đoán được tiềm lực kinh tế, nếp sinh hoạt của gia đình ấy. Nhà có kinh tế thì sẽ làm rào đá dày, cao và kỹ thuật xếp đá cũng được coi là nhất khi có thể nhờ được người khéo léo xếp. Những viên đá xù xì, kích thước khác nhau nhưng khi được xếp lại với nhau cứ tự nhiên giằng, giữ lấy nhau chắc chắn hơn cả bồi vữa, xi măng với nhiều hình dáng uốn lượn theo ngôi nhà. Nhiều ngôi nhà của cặp vợ chồng trẻ, hàng rào đá được xếp thành hai hình trái tim lồng vào nhau lãng mạn, tình tứ.

 

Đến thị trấn Mèo Vạc đã vào giữa trưa, tôi tranh thủ thời gian ít ỏi gặp, trao đổi với Bí thư Huyện ủy Hầu Minh Lợi. Ông Lợi chia sẻ: Mèo Vạc đang bứt phá đi lên bằng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với địa hình, với loại cây chủ lực: Ngô, đậu, lúa… chăn nuôi trâu, bò, dê làm hàng hóa. Do vậy ba năm trở lại đây, Mèo Vạc đã giảm được 15% hộ nghèo. Hiện nay, huyện còn 45% hộ nghèo (trong tổng số 14.630 hộ).

 

len cao nguyen da dong van 2

 

Du khách tham quan và chụp ảnh lưu niệm tại chân cột cờ Lũng Cú, huyện Đồng Văn – cực Bắc của Tổ quốc.

 

Sau bữa cơm thân mật tại Nhà khách UBND huyện, nghỉ ngơi ít phút chúng tôi tiếp tục lên đường, điểm đến là cột cờ Lũng Cú, huyện Đồng Văn – cực bắc của Tổ quốc. Xe xuất phát được 20km đến đỉnh Mã Pí Lèng (đỉnh của cao nguyên đá, cao hơn 2.000m so với mực nước biển). Đứng nơi đây, chúng tôi được chứng kiến kỷ lục Việt Nam khi một con đường được bổ dọc theo cao nguyên đã mất 200km đường đèo ngoạn mục. Con đường mang tên Hạnh Phúc đi qua Mã Pí Lèng được khởi công cách đây 55 năm, tuổi trẻ Việt Nam đã lập lên hàng loạt kỷ lục: Tiêu tốn nhiều ngày công lao động thủ công nhất (2,2 triệu ngày công). Các thợ thủ công treo mình 11 tháng ròng rã không ít hy sinh để mở đường qua Mã Pí Lèng, mở ra cho 17 dân tộc anh em nơi cao nguyên đá một nền văn minh mới và được nhà văn Nguyên Ngọc gọi là xây “kim tự tháp” ở Việt Nam.

 

Tiếp chặng đường cuối 30km, chúng tôi đến cột cờ Lũng Cú (thuộc xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn). Lũng Cú – được hướng dẫn viên cho biết: Theo tiếng Mông có nghĩa là “Long cư” là nơi cư ngụ của rồng. Còn theo một truyền thuyết của người địa phương, thì ở thời Tây Sơn, sau khi Hoàng đế Quang Trung đại thắng quân xâm lược phương bắc, ông đã cho đặt một chiếc trống đồng rất lớn tại Lũng Cú, cứ mỗi canh giờ trống lại được gióng lên ba hồi ầm vang xa đến bên kia biên giới cũng nghe được. Những hồi trống đĩnh đạc khẳng định chủ quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của Tổ quốc chúng ta. Tên Lũng Cú còn có nghĩa là “Long Cổ” – tức trống của vua. Một truyền thuyết thật đẹp, rất Việt Nam nên khi mọi người trong đoàn được lên chạm vào chân cột cờ thì hình hài Tổ quốc như hiện lên thật thiêng liêng, tươi đẹp lạ kỳ.

 

Lên Cao nguyên đá Đồng Văn để lại trong chúng tôi, những người làm Báo Điện Biên kỷ niệm không thể nào quên, một dấu ấn về miền đất, con người nơi cực bắc càng thêm yêu Tổ quốc Việt Nam.

LEAVE A REPLY