Ngải đắng trên núi

0
378

Lời tâm sự của tác giả: “Tôi thường cảm thấy khó khăn khi có ai đó hỏi: Bạn thích nhất cái truyện nào của mình. Bởi lẽ, giống như một bà mẹ, tôi thai nghén và viết chúng một cách chật vật. Có những cái viết xong rồi lại cảm thấy chưa ổn ở chỗ nào đó, phải để vào một chỗ, có khi vài tháng sau mới lấy ra đọc lại để tìm chỗ cần bổ sung hay cắt gọt. Nghĩa là, khổ sở lắm mới ra cho được một cái truyện ngắn. Như thế thì làm sao có chuyện yêu cái này và không yêu cái kia. Nhưng lần này, tôi chọn trả lời bằng “Ngải đắng ở trên núi”, là bởi tôi đã dồn vào nó rất nhiều sức lực đã đành, còn gửi gắm tình yêu với thiên nhiên, con người nơi mình sinh ra; nỗi day dứt hoài niệm về những năm tháng nghèo khó mà cha mẹ tôi phải chèo chống nuôi mấy anh em tôi ăn học; Nó gánh được linh hồn, dáng vóc, hơi thở, màu sắc, mùi vị… của miền núi cao; Nó là một bức thông điệp chuyển tải được nhiều nhất những điều tôi muốn nói, cũng như những dấu ấn cá nhân, khát vọng và tấm tình của một đứa con đã đi ra khỏi nhà.

 

Tôi đã viết “Ngải đắng ở trên núi”, như đã viết nhiều cái khác, trên giường tầng, trong một căn phòng chật hẹp ở kí túc xá trường đại học. Tôi đã luôn phải ngồi khoanh chân trên giường, viết trên một cái mặt bàn rất bé, trước mặt luôn là bức tường có treo ảnh cha mẹ. Bên ngoài bức tường là Hà Nội nhộn nhịp và náo động. Tôi đã chỉ có một bức tường gạch để cách ly với phố xá – thế giới xa lạ với những trang viết của tôi, càng xa lạ với nỗi hoài niệm không bao giờ dứt trong tôi. Song hình như, chính trong bối cảnh bấp bênh, mong manh ấy tôi viết thuận hơn, xuôi hơn thì phải…”

 

Đó là đoạn tôi viết theo đơn đặt hàng của ông bạn bên XBTN, khi hắn đòi tôi tự chọn cái truyện tôi thích nhất. Hắn nói, có thể sau này ý kiến của tôi sẽ khác vì tôi còn viết văn cả đời. Nhưng thực tế là đến giờ tôi vẫn thích cái truyện này nhất.”

 

ngai dang o tren nui

*

Mẹ và thằng Sinh đón tôi ở ngã ba, nơi chân dốc dẫn lên ngôi nhà sàn. Ngôi nhà nằm chênh vênh trên cao kia. Già nua cũ kỹ và nhỏ nhoi. Khi nào nhớ về mẹ, tôi cũng hình dung thấy ngôi nhà với chín bậc cầu thang, nơi chân tôi run rẩy, chập chững đi ra cuộc đời và từ cuộc đời đầy giông bão trở về.

 

Mắt tôi tự dưng mờ đi. Tôi luýnh quýnh: “ềm! ềm vẫn khoẻ đấy ư?Trời ôi, con lo biết chừng nào là lo!”. “Biết tao khoẻ thì còn lâu mày mới về, phải không Din?”. “Kìa… con xin ềm. ềm đừng nói với con thế. Con vừa về tới nơi… ềm có thương con…”. Mẹ tôi ngoảnh mặt đi, lặng thinh. Tiếng thở dài nhè nhẹ mà hun hút như cơn gió quặn lồng ngực tôi.Thằng Sinh ôm cổ, dí cái mũi ươn ướt vào má tôi: “Bác ơi, bà bây giờ lẩm cẩm rồi. “Hư nào!”. “Thật… Bố cháu bảo thế mà”.

 

Nhà tôi chỉ có hai chị em, tôi với em Dân. Cha tôi hy sinh khi tôi mới mười tuổi, mẹ tôi ở vậy nuôi mẹ chồng, cả đàn em chồng lít nhít với hai chị em tôi. Rồi bà tôi mất, các cô các chú lấy vợ lấy chồng, tôi đi xa, em Dân lấy vợ sớm rồi cũng đi nốt, bỗng chốc mà mẹ gần như chỉ có một mình. May mà em Dân lấy vợ quê, từ ngày có thằng Sinh mẹ tôi cũng khuây khoả.

 

ngai dang

 

Cây ngải đắng

 

Mẹ đi trước, tay dắt thằng Sinh chậm chạp leo dốc. Tôi thảng thốt, chẳng lẽ lưng mẹ đã còng thật rồi ư? Dấu vết thời gian chính là nó, đã hiện diện khắc nghiệt trên dáng vóc mẹ không nấn ná, không gượng nhẹ. Đôi chân cũng không còn chiều theo ý mẹ và con đường như dài hơn, dốc hơn, khấp khểnh hơn. Ngày xưa, cũng trên con đường cheo leo dốc này, tôi đặt em Dân lên tấm lá cọ rồi kéo sầm sập chạy xuống, vừa chạy vừa la hét. Có lần cả hai chị em ngã dúi dụi, mặt vục vào đất cát, không khóc thành tiếng. ấy thế mà bà nội biết, không cho mẹ đánh đứa nào. Về sau em Dân bảo: “Lúc ấy em thương mẹ quá. Đến cả cái quyền dạy con cũng bị cấm đoán”. ý em trách bà nội. Bà nội tôi có tiếng khắc nghiệt với con dâu ở Tả Choóng bây giờ. ấy thế mà rồi bà cũng chỉ ở với con dâu cả cho đến cuối đời chứ không chịu đi với đứa con trai, con gái nào.

 

Em dâu đi nương về, ngả vội gánh thóc nếp xuống cầu thang: “Chị Din đã về rồi này! Ôi, tí nữa thì em dâu không nhận ra đấy. Ngày càng đẹp gái như bông hoa thì khổ trai bản thôi”. Em dâu cười, cái lúm đồng tiền xoáy sâu trên má. Em dâu kém tôi bốn tuổi. Ngày em về làm dâu, nhà tôi có bao nhiêu trai bản uống rượu say không về được. Người Tả Choóng bảo nhờ em Dân có cái chữ hơn người nên ông Dìn mới chịu gả con gái cho mà chỉ lấy ba mươi, chứ người như thế phải lấy cả trăm mới xứng. Trăm đồng bạc trắng, trăm cân gà, trăm cân lợn, trăm lít rượu ngô, không phải nhà giàu mấy đời thì chịu thôi, làm đến chết cũng không trả hết nợ. Ngày có em dâu tôi khấp khởi mừng, ít ra cũng an tâm phần nào khi đi xa. Hình như em sinh ra để làm dâu nhà tôi. Em giống mẹ tôi từ nết ăn ở trở đi. Có em, mẹ có thêm một đứa con gái. Một đứa con gái mà mẹ mong mỏi chứ không như tôi. Tôi không nghe được mẹ muốn gì. Tôi vùng vẫy và tôi ra đi. Có những lúc mệt mỏi rã rời vì cuộc mưu sinh nơi xứ người tôi chỉ thèm được vùi mặt vào ngực mẹ mà khóc cho thoả thuê. Nhưng rồi vẫn cứ xa mẹ, xa hơn và lâu hơn.

 

Gánh thóc nếp có tới bốn cum vậy mà em dâu chỉ xốc nhẹ một cái đã vắt trên vai, bước thoăn thoắt lên cầu thang, để lại chín vết chân ướt vững chãi, đều đặn. Cầm lấy cum thóc, em dẻo tay lật ngửa, xoè nó ra như bông hoa trên sàn phơi đầu hồi. Cạnh đó có tới mấy chục cum đều đặn và đã xếp sẵn từ bao giờ. “Năm nay được nhiều thóc nếp không em?”. “Nhiều. Được mùa mà. Đủ đồ xôi cho chị Din cưới chồng đấy. Mà… có về quê lấy chồng không, chị Din?”. “Bây giờ không ai muốn lấy người hai sáu tuổi đâu em ơi. ế mất rồi”. “Cây cao khắc có người khoẻ trèo chị Din à’.

 

Tôi cất đồ đạc, cầm lấy đòn sóc theo em dâu lên nương mang nốt số thóc đã “tan” về. Em dâu bước đi nhanh thoăn thoắt, mặc những cành gai chìa ra quệt vào đôi bắp chân tròn vo. “Năm nay nhà nào cũng bỏ nương xuống dưới kia làm ruộng nước rồi. Cả lúa nếp cũng cấy dưới ấy, nhiều giống mới bây giờ mang đập như thóc tẻ được, không phải vò. Nhưng bà nội thằng Sinh bảo vẫn phải gieo một ít thóc cũ để còn đồ xôi, làm bánh rằm, với lại để phần đợi chị Din…”.

 

Nương lúa đã đổ rạp xuống ở phần “tan” xong. Mai kia khô rồi chỉ cần châm lửa đốt là sạch sẽ, trỉa luôn được vụ mới. Chiều chậm chạp đổ xuống từng vạt núi vàng sậm, cả những cánh rừng sồi, rừng dẻ mướt óng phía xa. Gió trườn trên những triền núi; từng cơn, từng cơn, cuốn theo mùi khói bếp từ những căn nhà bàng bạc, thấp thoáng phía bản người Phù Lá.

 

Một thằng bé, mặt mũi lọ lem lùa đàn dê đông nghìn nghịt từ đỉnh núi chạy xuống. Ngang qua chỗ tôi nó khựng lại, đôi mắt hiền lành giương lên tò mò. Tôi mỉm cười thân thiện: “Em, tên là gì?”. “…”. “Nhà em ở ngay bên suối phải không?”. Tôi hỏi vậy bởi lúc lội qua con suối đầu làng đã thấy một ngôi nhà trông giống trại chăn dê, từng dãy chuồng kế tiếp nhau san sát. Nhưng thằng bé không nói gì ngoài những âm thanh u ơ rụt rè. Đột nhiên nó chìa cho tôi một mớ cỏ tím ngăn ngắt, lè lưỡi trêu chọc rồi quay đi, roi vung lên vun vút. Em dâu khe khẽ: “Thằng Câm đấy. Có khi chị không nhớ. Ngày chị còn ở nhà nó vẫn mang cá lên bán cho mẹ. Nay thì ở mỗi nhà một vài ngày. Gần hai mươi tuổi rồi mà không lớn thêm được là mấy… Nó đưa cho chị cái gì thế? Ngải đắng à? Đi xa thế thảo nào về muộn…”. Lúc này tôi mới nhận ra một mùi hương quen thuộc xộc lên. Chính cái thứ hương cay cay, ngòn ngọt, nhằng nhặng đắng đã theo riết tôi, đã níu tôi với cả quãng đời thơ ấu bình yên. Có vậy mà từ lúc nào bước chân về bản tôi nghĩ mãi không ra mình thấy thiếu thứ gì mà cứ chông chênh, trống trải. Nắm rau ngải thằng Câm mang về đã bắt đầu héo và nóng sực.

 

Mãi tới lúc lên đèn em Dân mới về, thồ theo một can dầu sau xe. Trông em già và đen đi nhiều. Cứ tưởng làm cán bộ xã thì nhàn rỗi… Mâm cơm có canh măng giang nấu với thịt ếch, thịt gà rang lá chanh và ngải đắng xào mẻ. Nhìn đĩa rau ngải tôi thèm mà không dám gắp, sợ hết. Để rồi đến cuối bữa vẫn còn nguyên. Em dâu ngạc nhiên: “Sao chị bảo thích rau ngải lắm?”. “ừ…nhưng…”. “Nhưng lâu rồi, lâu quá rồi không ăn cái đắng như thế nên quên, phải không?”. Mẹ tôi, vẫn cái giọng dằn dỗi.

 

Tôi lặng im. Dân nén thở dài. Trên mâm gỗ, đĩa rau ngải cứ nhoà dần, nhoà dần đi… Tôi nghe quặn lên từ trong tiềm thức tiếng thác lũ thượng nguồn ào ạt, tiếng vỏ cây rừng mùa khô vỡ ra lách tách, tiếng con nai tác mẹ ngẩn ngơ, thăm thẳm và cả những cơn gió mùa dài lê thê hun hút trên mái nhà. Năm ấy… Trời làm đất đai cạn kiệt, tôi theo mẹ đem ống bương đi qua hai quả núi, cách Tả Choóng nửa ngày trời mới lấy được thứ nước đầy rêu trong một cái vũng nhỏ. Rét căm căm, sương muối trút xuống từng tảng, sáng ra thấy cây cối đầy lá úa, dây bí ngoài vườn chưa kịp ra quả đã khô quắt queo, mẹ gieo hạt cải cả tháng chưa thấy mọc. Không có hai thứ ấy, người quê tôi không còn bất cứ thứ rau gì cho mùa đông. Một ngày, hai ngày, rồi cả tháng, bữa nào cũng chỉ có sắn nạo ăn với muối. Em Dân khóc ngằn ngặt, rồi bà, rồi mẹ cũng ứa nước mắt. Chiều hôm ấy mẹ ra vườn quơ lấy một nắm ngải đắng, bà bảo: “Đừng liều thế, mẹ Din”. Mẹ tôi ngập ngừng: “Con dê ăn được chắc mình cũng ăn được ềm à!”. Không có rau, miệng ai cũng phồng rộp cả lên. Nhưng ngải đắng xưa nay người ta chỉ lấy về khi trong nhà có người ốm, đem nướng trên phiến đá nung rồi để gối đầu chứ chưa ai ăn bao giờ.

 

Mẹ đem luộc rồi xào mẻ. Mẻ chua, muối mặn, vậy mà ngải vẫn nhằng nhặng đắng. Tôi còn cố nuốt được vài ngọn chứ em Dân thì nhè ngay ra, lại khóc. ấy thế nhưng tỉnh người ra thật, dần dần vài bữa rồi quen, ruột gan đỡ xót đi. Bà gắp một bát đem sang hàng xóm. Thế rồi cả bản theo nhau hái về ăn thay rau. Người ta càng hái thì ngải càng đâm nhiều ngọn, mặc cho những đợt gió mùa tới tấp ùa về, quất ràn rạt trên mặt đất. Trên nương, trong vườn, cả dưới gầm sàn chỗ cái ang nước khô vênh, chỗ nào cũng thấy ngải, như một sự bù đắp cho sự khắc nghiệt của đất trời…

 

Sinh đã ngủ khoèo, trật cả cái bụng tròn phinh phính ra phía bếp lửa. Mẹ tôi mang mảnh lưới đan dở ra làm tiếp, em dâu vừa đun cám vừa vò thóc nếp. Dân ngồi rít thuốc lào. Trên bếp, nồi cám bắt đầu sôi lục bục mẹ mới cất tiếng: “Dân à! Nói gì với chị mày thì nói đi chứ. Mong nó về lắm mà!”. Em dâu nhẩn nha: “Đi làm cán bộ nói mãi cho người ngoài nghe được mà nói với chị gái thì khó thế à”. Dân ngọ ngoạy, lúng búng: “Chị Din về lâu lâu được thì mai em mới nói. Để chị nghỉ đã…”. “Chị không về lâu được đâu. Một hai ngày lại đi thôi. Còn bao nhiêu việc dưới kia…”. Dân vốn thế. Người ngoài chả nể ai về nhà lại sợ chị. Từ bé tới giờ khi nào tôi cũng đầy quyền uy. Đâu muốn thế. Chả gì, cha tôi là trưởng họ, được mỗi đứa con trai…

 

Dân diễn đạt một cách vất vả, thỉnh thoảng lại liếc mẹ, nhưng mẹ không tỏ thái độ gì. Ra em đang mâu thuẫn với mẹ, giữa cái mới và cái cũ. Xã đang đốc thúc các làng, các bản thực hiện quy ước nếp sống văn hoá, phải thay đổi cách ăn ở sinh hoạt, cả một số phong tục bị xem là lạc hậu… nhưng Dân, một trong những người cần gương mẫu thì vấp phải mẹ, như vấp vào ngưỡng cửa nhà mình. Khó xử, nan giải là phải. Chẳng biết mấy ngày ở nhà tôi có giúp được gì không.

 

Mẹ giục đi ngủ, mở hòm ra lấy bộ váy từ ngày tôi chưa đi. “Còn biết cách mặc không?”. “Dạ… nhưng tóc ngắn thế này làm sao mà vấn được khăn đây ềm?” Mẹ tôi thở dài: “Mày lớn quá, tao không giữ nổi mày thật rồi. Núi rừng cao thế cũng không ngăn được bàn chân mày. Sau này tao chết đi rồi mày có trở lại Tả Choóng không? Mày lấy người thế nào làm chồng hả Din? Sao mày không đưa nó về để tao xem tay, xem mặt? Mày sợ nó khinh mày, khinh quê mày, phải không? Đời tao có khi không biết đến chén rượu của con rể lớn bé thế nào…”.

 

Giờ thì tôi khóc nức lên. Lâu rồi không khóc được như thế. Tôi biết nói gì với mẹ khi tôi đã ra đi vì khát vọng của mình, đã giãy giụa ra khỏi những mịt mùng heo hút, đã sợ bị “định giá” như mẹ, như em dâu… thì còn có thể thanh minh, giãi bày gì cho vừa lòng mẹ? Tôi ghì xiết lấy tấm thân bé nhỏ và lạnh của mẹ. Đâu hết rồi mẹ ơi những ấm nồng, đầy đặn ăm ắp sức sống? Đâu rồi bầu ngực tròn căng của người vợ goá? Đâu rồi mái tóc đầy những mùi thơm của lúa, mùi cay nồng của ngải đắng, mùi mặn mòi của cỏ tranh bị đốt cháy?…

 

Đêm thanh vắng, tiếng nước chảy trong máng vầu róc rách. Không biết từ ngày tôi đi đã mấy lần em Dân phải thay máng rồi. Bất chợt tiếng tắc kè bật lên khắc khoải. Tôi rưng rưng nhớ cha. Ngày cha tôi còn sống ông đã từng bắt tắc kè về nuôi. Chỉ cần thả vài con tắc kè non lên mái nhà hôm trời mưa là nó ở lại luôn, thôi không đi nữa. Có lúc đàn tắc kè sinh sôi đến gần chục con, dạn người, lơ láo bò qua bò lại trên bậu cửa. Hôm nào chúng kêu tiếng lẻ là trời nắng, tiếng chẵn là trời mưa, cha tôi cứ theo đó mà cắt đặt việc nhà. Chiến tranh biên giới nổ ra, cả nhà bồng bế nhau đi sơ tán, chỉ cha tôi ở lại cùng dân quân du kích xã mà ông phụ trách. Cho đến khi tạm ngưng tiếng súng thì chúng tôi trở về. Cha tôi đã hy sinh. Căn nhà cũ tan hoang, mốc thếch, đàn tắc kè bỏ đi từ bao giờ. Bà nội ứa nước mắt bảo chúng đi theo cha tôi. Đêm nay… tắc kè cũng kêu. Không biết trong số chúng có con nào là hậu duệ của đàn tắc kè nhà tôi? Đếm mãi mà không nghe rõ tiếng chẵn hay lẻ. Mẹ tôi than mấy năm gần đây mưa nắng thất thường, mùa vụ cũng lúc được lúc mất.

 

“Din ơi, mày vẫn thức đấy chứ?”. “Vâng! ềm bảo gì con?”. “Mai mày nói với thằng Dân, bảo nó không muốn ở nhà thì xuống xã mà ở”. “ấy chết! Sao ềm nói thế? ý em Dân không dám như vậy đâu”. Mẹ nghèn nghẹn: “Hơn sáu mươi năm nay tao như con suối chảy xuôi. Sắp ra đến sông lớn rồi, sắp theo cha chúng mày rồi, giờ nó bắt rẽ ngang, bắt chảy ngược… Nó… thằng Dân ấy…”. “Nhưng con thấy có gì rối rắm lắm đâu mà ềm…”. “Hừ! Không à! Mày cũng giống nó thôi, Din à. Bao nhiêu năm nay người ở trên sàn nhà, trâu, ngựa, ngan, ngỗng ở dưới gầm sàn, tự dưng em mày đòi mang trâu ra ngoài vườn, con trâu mẹ ốm lên ốm xuống, cho uống bao nhiêu muối không khỏi. Ngỗng đang ở yên thế tự nhiên lại lùa ra, sáng nào cũng phải đi tìm, con ngủ chỗ này, con ngủ chỗ khác… Cả mày, cả nó đều tập ngồi, tập đi ở trên sàn nhà mới lớn được chừng ấy, bây giờ còn mang bộ bàn ghế về. Nó bảo hay có khách nên phải lịch sự. Lịch sự là cái gì? Khách nào cũng mặc quần áo đẹp, đi cả giày lên nhà. Ngồi uống nước thì quay lưng vào bàn thờ ông bà, thấy trẻ con thì vỗ má, xoa đầu… Thế mà lúc tao mở miệng ra thì nó bảo để rồi phá cái nhà này đi, làm nhà ngói mà ở. Tao ốm, bảo mổ dê, gọi thầy mo về đuổi con ma đi, nó lắc đầu quầy quậy, đưa cho một nắm thuốc xanh xanh đỏ đỏ… Bây giờ khôn rồi, cái gì cũng muốn theo người xuôi. Tao không cần. Tao không có đứa con nào như thế. Tao chết ở đây”. Lồng ngực mong manh của mẹ căng lên, những nhịp đập hối hả, ngắt quãng. Mẹ khóc không có nước mắt. Tuổi già đã mang đi những giọt đau đớn cuối cùng của đời người.

 

Hồi lâu, mẹ cựa mình len ra khỏi đôi tay tôi, mẹ vén lại chăn. Tôi choàng dậy: ” ềm đi đâu khuya khoắt thế?”. “Ngủ đi. Tao đi xem con nghé mới đẻ. Dặn mẹ Sinh nhớ xúc trấu khô mà ủ chắc lại quên rồi”. Lúc chiều ông Tào ở mãi Ngàm Đăng Vài sang đòi đặt tiền trước để con nghé lớn tí nữa thì bắt đi. Trâu trắng không dùng cày được, người ta kiêng. Nhưng bán đi thì tiếc, lại thương con trâu mẹ. Thế nên ông kia nói mãi mà mẹ vẫn chưa chịu cầm tiền.

 

Tôi không sao ngủ được. Càng đêm càng lạnh. Thời tiết ở đây vốn thế, ban ngày nắng đến mấy, có khô rang cả mái nhà dày hàng gang tay thì đêm vẫn lạnh. Quanh năm không khi nào phải cất chăn. Tấm chăn tôi đang kéo lên đến cằm nặng trình trịch, toả ra một thứ mùi của ký ức. Ngày chuẩn bị về làm dâu, mẹ tôi mười sáu tuổi, mẹ tôi đã dệt cả tháng trời mới xong tấm chăn, còn chưa kể những khăn và váy áo. Mẹ kể đêm đầu tiên, rét lắm, nhưng mẹ dứt khoát không chịu đắp chung chăn với cha, để rồi cha phải bỏ ra bếp ngồi hút thuốc lào đến sáng. Mẹ về làm dâu là về không, hầu như chẳng có gì vì ông ngoại mất sớm, mẹ ở với chú thím. Thế nên chỉ như thân con mèo nem nép bên bếp nhà chồng, từ sáng đến tối không biết ngẩng mặt lên, đến bữa không dám ăn no, đến năm mười tám tuổi mà bé quắt hơn cả lúc lấy chồng. Chị cả tôi ra đời chưa đầy tháng thì mất vì viêm phổi, mãi hơn chục năm sau mới có tôi…

 

ở vùng núi bao giờ mùa đông cũng đến sớm. Khi những chiếc lá đào, lá mận đầu tiên rụng xuống thì dòng suối bắt đầu cạn, nước chảy dưới phần ngầm của lớp đá cuội trắng trơ. Gió từ trong khe núi ùa ra, mang theo hơi lạnh đến ghê người của đá và lá cây lúa. Thân ngải đắng bắt đầu khô lại, rễ bám chặt lấy lớp đất chai cứng và ngả sang màu nâu đen vì sương muối. Nhiều ngày, nhiều tuần, có khi cả tháng trời không có nắng, giữa tuần trăng đêm cũng chỉ lờ mờ. Đây là quãng thời gian ít việc nhất trong năm. Đám con gái chỉ quanh quẩn ở nhà xe lanh đôi gò má bắt lửa đỏ au. Ngoài nương chỉ còn trồng tam giác mạch. Hạt tam giác mạch ăn không ngon như hạt ngô, hạt lúa nhưng hoa tam giác mạch thì đẹp. Trời càng rét thì sắc biếc sắc hồng càng rực rỡ. Cả dải núi, nương nhà này nối với nương nhà kia cứ bừng lên như một màu tam giác mạch ngợp trời. Cả nương tam giác mạch có khi chỉ được lưng quẩy tấu hạt nhưng nhà ai cũng trồng. Dễ lắm. Đợi cây ngô thu hoạch xong, trời bắt đầu rét thì quãi tam giác mạch xuống. Cỏ không mọc nổi nhưng tam giác mạch thì nảy mầm lên xanh mướt, thế nên chả ai chịu để đất không.

 

Cho đến khi ngựa đập móng lộp cộp đầu hồi, hoa lê bật bông trắng như tuyết thì xuân sang. Các ông bố đeo bao dao ra khỏi nhà tìm trong bản, ngoài bản, ai có lợn to thì chung mổ ăn Tết. Xuân sang đấy nhưng trời còn rét mãi tới tháng ba tháng tư, trẻ con đuổi bò xuống thung lũng vẫn chưa chịu bỏ bùi nhùi rơm ở nhà, mặt đứa nào cũng nứt toác cả ra. Chỉ có đất bắt đầu tơi mềm, bò dê được ăn cỏ tươi và nước thì bắt đầu chảy đầy máng vầu trở lại. Sau Tết Nguyên đán có khi hội bản này nối sang bản kia cả tháng trời. Chợ nào cũng đông nghìn nghịt, toàn con trai con gái mặc đẹp, đeo đầy vòng bạc, mua sắm thì ít mà ngắm nhau thì nhiều. Ngày xưa, cha tôi cũng nhìn thấy mẹ tôi vấn đầu trong một phiên chợ như vậy.

 

Trở vào, mẹ không đi nằm mà ra bếp ngồi, cơi lò cho cháy lên, lại mang lưới ra đan. ánh lửa chập chờn hắt lên mẹ, lên mái tóc bạc, lên gương mặt đã kín vết nhăn như thực, như hư. Một nỗi sợ từ đâu ùa vào tôi. Hình ảnh chiếc áo quan mở nắp mà thằng Sinh với lũ bạn nhảy ra nhảy vào đùa nghịch hiện lên mồn một. Mẹ tôi đã chuẩn bị cho sự ra đi lâu nhất, mãi mãi như thế từ cách đây năm, sáu năm. Ba con dê đổi lấy một khúc gỗ dẻ rất lớn mà em Dân dùng trâu kéo về…

 

Tôi ra ngồi với mẹ. Lát sau gà gáy eo óc thì em dâu cũng dậy kiễng chân với mẹt muối sấy trên gác bếp xuống lật trở cho đều. Sắp tới rằm tháng bảy ăn to lắm. Nhà nào nghèo mấy thì trẻ con cũng phải có bộ quần áo mới, trong nhà có ít nhất hai thứ bánh gù, bánh chuối và chõ xôi đỏ hoặc tím. Ngày nhỏ, tôi đã từng bắt em Dân theo chúng bạn sang tận Khuổi Nậm tụ tập đánh khăng đánh cù, lúc đói bụng thì chạy vào bất cứ nhà nào cũng được ăn bánh đầy bụng. Tháng bảy hay mưa nhưng cứ mười bốn, mười rằm là tạnh ráo. Đàn ông đi uống rượu nhà bạn bè có khi say mấy ngày liền không về.

 

Em dâu nhắc: “Rằm tháng bảy năm nay thế nào chị Din cũng phải về đấy nhé. Hai cái rằm rồi, làm bao nhiêu bánh ăn mãi không hết. Làm ít bà bảo sợ chị Din về, nhỡ có bạn đi cùng thì không đủ, thế là cứ cố nhiều bột, nhiều chuối… ấy da…”. Tôi nhìn mẹ. Muốn hỏi có phải ềm chỉ làm mặt giận vậy thôi chứ lúc nào cũng thương con gái nhất, nhưng mẹ dường như chẳng để ý gì.

 

Chưa tỏ mặt người, em Dân đã đi, bảo phải lên họp ở trên huyện. Dân nhìn tôi, hình như muốn nói gì nhưng ngần ngừ rồi thôi, xách cặp đi, tiếng xe Min nổ phành phạch xa dần. Gương mặt buồn buồn của đứa em trai mới lớn ngày nào còn tranh với chị từng củ sắn nướng cứ dằn vặt tôi. Nghe đâu người ta còn muốn cất nhắc Dân lên huyện nhưng em không muốn đi. Dân khác tôi, gắn chặt với nơi mình sinh ra, không sao rời đi được dù có nhiều cơ hội cho bản thân vươn lên. Tôi vừa thương vừa biết ơn Dân, em gánh cả phần trách nhiệm của tôi đối với mẹ, hẳn cha tôi dưới kia cũng mừng.

 

Sinh dậy, chả rửa mặt gì, lôi tôi xuống cầu thang: “Mình đi tìm ngỗng về không thì bà lại mắng bố Sinh”. “Tìm ở đâu kia?”. “Sinh biết mà. Đi nhanh nào”. Sinh kéo tôi chạy một mạch tới suối, chỗ cái cối nước đang thì thụp giã. Cả bầy ngỗng đang ngủ ở đấy thật, co một chân, húc đầu vào cánh, bị đánh thức chúng nhốn nháo ầm ĩ. Bản tôi, nhà nào cũng nuôi ngỗng thay cho chó canh nhà. Chỉ cần hai con ngỗng là cứ việc mở toang cửa ngõ đi làm cả ngày.

 

Hai bác cháu lùa ngỗng về tới nhà thì mẹ tôi đã đứng ở chân cầu thang, có ý chờ. “Ai bảo không mặc áo mà chạy đi sớm thế hở Sinh?”. Thằng bé tảng lờ, liến láu: “Cháu với bác Din đi tìm ngỗng về. Chúng nó ngoan lắm éme à. Chỉ cần làm một cái nhà be bé ngoài máng nước cho chúng nó là xong. éme ơi… – nó ngập ngừng – éme đừng mắng bố cháu, đừng giận bố cháu nữa, tội nghiệp lắm. éme nhé! éme gật đầu đi. Gật như Sinh đây này”. Thằng bé làm động tác gật đầu mấy cái. Mẹ tôi nhìn thằng bé, mắt hấp háy như có ánh cười. Thằng Sinh giống em Dân tôi y hệt, từ nước da ngăm ngăm, đôi mắt một mí đến hai mớ tóc hơi quăn kết chặt vào nhau. Nó thực sự là hiện thân của Dân hai chục năm về trước… hình như thằng Sinh đang cố gắng làm cái việc mà bố nó loay hoay mãi không biết xử trí thế nào. Và mẹ tôi thì tin cậy nó. Có lẽ vì thằng bé còn đang trong vòng tay bà, nối bà với những đứa con dang đôi cánh bay cao và bay xa.

 

Dưới chân cầu thang, nơi mẹ tôi và thằng Sinh đang đứng. Có một phiến đá rất lớn. Phiến đá màu xanh, bốn năm người đứng lên vẫn đủ chỗ. Cha tôi đã kéo nó từ dưới chân suối lên sau một cơn lũ lớn. Chính trên phiến đá này tôi đã gặp cha lần cuối cùng, nghe ông dặn dò rồi tôi khóc ròng ròng, mãi mới buông vạt áo ông ra. Sau này, không biết đã bao nhiêu lần tôi đứng vào chỗ của cha hồi đó, mặt hướng lên phía Tây Côn Lĩnh cao vời vợi, sương mù phủ trắng, mà cảm thấy như một sự ấm áp, một nguồn sinh lực nào đó, để có thể đi những bước vững vàng ngoài kia.

 

Mặt trời lên. Đỏ như một quầng lửa. Báo hiệu một ngày rất nắng. Cứ nắng như thế thì chỉ ba ngày là thóc nếp khô, yên tâm xếp lên gác bếp. Năm nào cũng vậy, sau mùa thu hoạch bao giờ trên cái gác chạy dài từ đầu nhà đến cuối nhà cũng đầy chật lúa ngô. Ngô túm thành từng túm treo lủng lẳng, lúa xếp bên trên. Được mùa, có khi lúa năm ngoái chưa ăn hết thì lúa năm nay đã về, cứ thế xếp lên. Mẹ tôi kể ngày xưa, nhà ông bà nội còn có những cum thóc tuổi nhiều hơn chú út.

 

Có tiếng leng keng, lịch kịch, thì ra thằng Câm đang lùa dê lên núi. Nó dừng ở ngõ nhà tôi, chờ em dâu tôi lùa dê ra. Tôi bảo: “Để chị đi cùng nó”. “Làm gì cơ chứ. Mình nó vẫn chăn mà. Với lại, xa lắm cơ chị Din ạ”. “Xa mấy chị cũng tới được. Chị muốn tìm ngải đắng…”. “Thì bảo nó lấy cho. Việc gì phải đi cho mệt ra”. “Không. Chị muốn tự hái về”. Mẹ lẩm bẩm: “Ngày xưa… ngải bò vào đến gầm sàn, dỗ mãi không ăn. Làm sao giờ lại thèm khát đến thế hở!”.

 

Câm hớn hở ra mặt. Cặp mắt anh ánh đàn ông lấp lánh trên gương mặt thoắt buồn, thoắt vui. Chắc đi mãi một mình nó cũng buồn. Chúng tôi đi ngược về phía mặt trời. Mặt trời đang ở phía sau dãy núi kia, mới chỉ thấy những tia nắng hình nan quạt hắt lên. Con đường đầy những vết chân dê càng lúc càng dốc, những con bọ gậy bò lổm ngổm trên đám lá vàng ướt sũng sương đêm. Càng lên cao rừng càng âm u. ở những cánh rừng như thế này trời tối khi nào đám trẻ mải chơi không kịp biết. Trên đầu, tán cây ken dày khít, ong bay vù vù. Vất vả lắm tôi mới theo kịp Câm. Đàn dê không cần đuổi cũng đã chạy trước, sục vào những bụi cây gai mịt mùng.

 

Và đây, tôi đang đứng trên đỉnh của một trong những ngọn đồi hùng vĩ nhất Tây Côn Lĩnh. Gió lồng lộng thổi như muốn cuốn tôi bay lên cao… Và kia, oà ra trước tôi, xanh rợp, tím ngắt, bàng bạc trắng, dập dềnh như những con sóng là cả triền núi mơn mởn ngải đắng vừa thức dậy từ sương mù. Tôi lao vô tri vào đấy, úp mặt lên nó, một trạng thái nửa mê nửa tỉnh, tựa hồ quay về những năm tháng rất xa. Những năm tháng mà có lúc tưởng như nó chỉ còn phảng phất trong cuộc sống cuồn cuộn chảy, dữ dội vật lộn hôm nay. Tôi gặp cha tôi ở đây. Ông vẫn cường tráng, vâm vấp, tôi rúc vào ông như một con gấu non…

 

Tôi đã trở về nơi tôi sinh ra. Nơi mặt trời lên muộn nhất và đi ngủ sớm nhất.

 

Tôi đã trở về trên núi cao.

LEAVE A REPLY