Nước ngầm ở vùng núi cao khô khát

0
5501

Từ bao đời nay, người dân sống ở vùng cao núi đá vôi thuộc các huyện Đồng Văn, Mèo Vạc ( tinh Hà Giang), Hà Quảng ( tỉnh Cao Bằng) vẫn coi giọt nước quý hơn vàng. Không có vàng người ta vẫn sống, nhưng không có nước một ngày, chứ không nói đến nhiều tháng trong năm như đồng bào các huyện nêu trên thì cuộc sống sẽ rất khổ. Nhiều thầy giáo, cô giáo, cán bộ , người dân hàng tuần không dám tắm vì không có nước. Cán bộ cấp trên về thì xã phải cho người đi mua nước về phục vụ. Nếu mãi thiếu nước như vừa qua thì ai có thể an cư để lạc nghiệp và giữ đất cho Tổ Quốc, chứ chưa nói đến việc tăng gia, chăn nuôi để đảm bảo và nâng cao đời sống.

 

nuoc ngam o vung nui cao kho khat 1

 

Đảng, Nhà nước ta và nhiều tổ chức Quốc tế từ nhiều năm nay đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng cho việc giải quyết nước cho các huyện vùng cao của Hà Giang, Cao Bằng. Hàng vạn chiếc lu chứa nước mưa và bể chứa đã giúp hầu hết cư dân nước sinh hoạt trong thời gian mưa và sau đó ít tháng. Đã có một số hồ treo thành công trong việc tích nước mưa, và thực tế chúng không có tác dụng chống hạn chắc chắn, vì chỉ qua vài tháng không mưa thì nước cũng bốc hơi hết chứ chưa cần người sử dụng. Việc tìm để xây dựng hồ treo ở nơi có nước ngầm thường xuyên chảy vào trên vùng cao nguyên đá vôi còn khó hơn mò kim dưới đáy biển. Nếu xây dựng hồ treo chặn nước suối ở vùng thấp ( huyện Yên Minh) để bơm lên Đồng Văn, Mèo vạc với độ cao chênh hơn 500 mét thì thực là không tưởng cả về kỹ thuật và tiền điện.

 

Giải pháp nào để cấp nước sinh hoạt, sau nữa là nước tăng gia sản xuất lâu dài, bền vững cho vùng cao núi đá của 2 tỉnh Hà Giang, Cao Bằng và nhiều vùng khó khăn về nước khác?

 

nuoc ngam o vung nui cao kho khat 5

 

Việc xây dựng các đường dẫn nước tự chảy từ các mó nước sẽ rất lợi, nếu các mó nước tồn tại lâu dài. Khi đó nước mó chỉ cần xử lý là dùng được. Tuy vậy, nhiều công trình dẫn nước mó cũng bị treo khô về mùa khô. Mặt khác khi mực nước tĩnh liên tục bị tụt thấp bởi nhiều lý do, thì việc đầu tư lớn để lấy nước mó là không bền vững.

 

Tỉnh Hà Giang đang và sẽ được Chính phủ cho xây dựng 30 hồ treo để thu giữ nước cho dân. Nếu tình hình địa chất bình thường thì hồ thu giữ nước rất tốt về nhiều mặt, vì nó sẽ giữ lại nguồn nước mưa rất lớn thường bị chảy xuống sâu sau mỗi trận mưa. Tuy vậy, nếu không thể làm  cách nào khoa học và kinh tế hơn, thì hồ treo vẫn phải coi là Quốc sách.

 

nuoc ngam o vung nui cao kho khat 2

 

Xin làm 1 phép so sánh về hiệu quả đầu tư của giếng khoan và hồ treo đã đi vào khai thác (Hồ treo Tà Lủng, là hồ duy nhất có nước  đến tháng 3/2007 trong số 2 hồ treo của Hà Giang mới bị sự cố hỏng, mất nước hoàn toàn vừa qua):

 

Các chỉ tiêu 4 giếng khoan đã hoàn thiện ở Đồng Văn 01 giếng khoan sẽ tìm ở Mèo Vạc Hồ thu, trữ nước Tà Lũng – h. Đồng Văn
Kinh phí đầu tư    ( Tỷ VNĐ) 4×0,438 = 1,752 2,067 1,4
Dung tich trữ  cả năm  ( m3) 650m3/ngày x 365 ngày = 237.250 Nếu được: 100 x365 = 36.500 m3       28.000 m3.
Lưu lượng cấp cho 5 tháng mùa khô (m3) 97.500 15.000 5.600  ( thường sau tháng 4 là cạn)
Xuất đầu tư ( tính cho 10 năm) đ/m3 738,46 5.663 5.000
Lưu lượng ổn định lâu dài, không phụ thuộc thời tiết, thời gian. ổn định lâu dài, không phụ thuộc thời tiết, thời gian. Phụ thuộc lượng mưa hàng năm, nắng lâu là cạn.
Chất lượng nước Tốt, dùng trực tiếp cho sinh hoạt, ổn định, ít bị ô nhiễm Tốt, dùng trực tiếp cho sinh hoạt, ổn định, ít bị ô nhiễm Dễ bị ô nhiễm, do phụ thuộc môi trường bên ngoài.
Quản lý, vận hành Dễ dàng Dễ dàng Phức tạp

 

Theo chúng tôi, các hố trũng vùng đá vôi thường là nơi giao nhau của nhiều đứt gẫy kiến tạo, kèm theo nó luôn có các hang karstơ, khe nứt ngầm dẫn nước xuống sâu, các hồ treo lại phải xây dựng ở đây để thu nước, vì vậy việc xây dựng đáy hồ để tránh các sự cố sụt lở là rất khó khăn, tốn kém và phải xây dựng nghiêm túc. Sự cố thủng hồ treo Tà Lũng là 1 ví dụ.

 

nuoc ngam o vung nui cao kho khat 4

 

Nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương, khi còn là Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chất, khi đi qua vùng Đồng Văn, Mèo Vạc đã ước ao khoan tìm được nước ngầm  cho cư dân vùng này.

 

Năm 2005, Liên hiệp Khoa học Địa chất và Du lịch thuộc Tổng hội Địa chất Việt Nam đã lần đầu tiên thực hiện được ước ao đó bằng việc thăm dò và xây dựng thành công 4 giếng khoan tại sườn núi đá vôi thuộc huyện lỵ Đồng Văn tỉnh Hà Giang. 4 giếng khoan này có tổng lưu lượng hơn 650 m3/ngày đêm, đủ cấp cho 5000 – 6.000 dân sinh hoạt với mức 100 m3/ngày. Nước dùng cho sinh hoạt không cần sử lý. Công trình đã được Chủ tịch nước gửi thư khen, Chủ tịch Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cấp bằng khen.  Nhưng để được 4 giếng khoan, chúng tôi đã tốn 19 lỗ khoan thăm dò và nhiều công việc kỹ thuật khác. Công việc được làm theo 1 Hợp đồng kinh tế khoán gọn, bên B phải chịu rủi ro 100% nếu không tìm được nước.

 

nuoc ngam o vung nui cao kho khat 3

 

Từ thành công này chúng tôi thấy là tìm nước cho các cao nguyên đá vôi là rất khó, rủi ro rất cao, khó hơn tìm vàng và đá quý. Bởi vì vàng, đá quý và các khoáng sản kim loại có quy luật thành tạo và phân bố giống nước ngầm, theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi, sau khi thành tạo, chúng được tồn tại gần như tại chỗ, còn nước ngầm thì dễ dàng bị ngấm đi nơi khác. Nhưng cư dân rất cần.

 

Chúng tôi xin đề nghị với Chính phủ, các nhà khoa học bằng mọi cách, mọi giá tìm nguồn nước ngầm nguồn gốc sâu và tại chỗ để cấp cho vùng cao nguyên đá vôi Đồng Văn, Mèo Vạc ( tỉnh Hà Giang) và Lục Khu (tỉnh Cao Bằng). ý tưởng này không mới, vì đã có 3 – 4 phương án tìm nước ngầm cho Mèo Vạc và Lục Khu với nhiều tỷ đồng nhưng mới tìm được gần chục giếng khoan có nước đạt yêu cầu khai thác.

 

Sau gần 20 năm mò mẫm kết hợp những điều đã học, bổ xung nhiều điều trong thực tế bằng cái giá tự trả nhiều tỷ đồng, chúng tôi đã thăm dò và xây dựng được 130 giếng khoan cho nhiều vùng mà các người đến trước không tìm được như: khu công nghiệp Dung Quất, cao nguyên Đồng Văn, miền Tây tỉnh Ninh Thuận, các đơn vị Quân đội ở Sơn Tây, Xuân Mai, Hoà Bình, Vĩnh Phú, nhiều trại giam của thường dân và Quân đội ở các vùng khô cằn …. Có được thắng lợi đó là nhờ chúng tôi đã tìm được những điều mà trong các sách người ta chưa nói thật hoặc chưa nói hết. Ở ta nhiều người hay đòi “ Nói có sách, mách có chứng”.

 

Ngày nay và sau này vấn đề nước sinh hoạt sẽ ngày càng khó khăn. Để góp phần vào sự nghiệp tìm nước cho vùng cao nguyên đá vôi Hà Giang – Cao Bằng, nói riêng, nhiều nơi khác, nói chung, Liên hiệp Khoa học Địa chất và Du lịch thuộc Tổng hội Địa chất Việt Nam xin mang các điều rút ra được trình bày để mọi người cùng xem xét, ứng dụng.

 

A – Cơ sở khoa học:

 

Theo chúng tôi, nước ngầm ở Trung du và miền núi có nguồn gốc nội sinh là chủ yếu, Chúng chỉ được thành tạo tại giao điểm của các đứt gẫy kiến tạo, thường là 4 đứt gẫy và tại đó phải có các hoạt động đi kèm của xâm nhập nông á núi lửa trẻ ( Nước có nguồn gốc á núi lửa).

 

Đối với vùng cao nguyên đá vôi, tiền đề địa chất trên còn đòi hỏi các khối xâm nhập nông á núi lửa trẻ này phải đủ lớn để sức mạnh và các vật liệu của nó đủ lấp đầy các hang hốc, khe nứt, không cho nước đã được thành tạo chảy mất đi.

 

Đây là lý do làm cho việc tìm  nước nói riêng, nước ngầm, nói chung, cho vùng cao nguyên đá vôi khó hơn tìm khoáng sản quý hiếm.

 

Khi đã hiểu đúng bản chất của nước ngầm thì việc tìm ra chúng là không khó, nếu ở vùng đó có tồn tại. Trong đó, công tác địa chất để tìm  các giao điểm  của các đứt gẫy kiến tạo và công tác địa vật lý là quyết định  cho thắng lợi của việc thăm dò nước ngầm.

 

Có thể còn nhiều tranh cãi, nhưng chúng tôi đã thắng lợi đúng bằng lý thuyết tìm được nêu trên. Đưa ra công luận vấn đề này, chúng tôi muốn cư dân những vùng không có nước đỡ khổ sớm hơn, đồng thời Nhà nước và các địa phương  chỉ phải chi tiền vào việc có ích cho dân.

 

B . Biện pháp thực hiện:

 

Mọi Dự án và phương án thăm dò nước đều chỉ có giá trị khi tìm ra nguồn nước sử dụng được. Vì vậy các nhà quản lý khi giao việc chỉ nên lấy nước làm trọng. Việc thăm dò và xây dựng các giếng khoan cho Trung du và miền núi rủi ro rất cao, nên giao việc bằng cách khoán gọn, có nước sẽ được tiền. Làm như vậy, người làm thuê sẽ cố gắng tìm được nước để lấy tiền, còn Nhà nước chỉ phải trả tiền khi các giếng khoan có nước khai thác được.

 

Lý thuyết nêu trên đã được rút ra từ thực tế và đã đem ứng dụng cho việc thăm dò và xây dựng các giếng khoan ở thị trấn Đồng Văn, tỉnh Hà Giang, huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận.

 

Đầu năm 2004, sau khi nghe tin một đề tài khoa học trị giá gần 3 tỷ đồng kết thúc mà không tìm được giếng khoan nào có nước cho vùng núi cao tỉnh Hà Giang, Liên hiệp Khoa học địa chất và du lịch, thuộc Tổng hội Địa chất Việt Nam đã gửi Công văn lên UBND tỉnh Hà Giang xin thăm dò và xây dựng các giếng khoan nước ngầm cho 4 huyện: Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh và Quản Bạ theo cơ chế khoán trọn gói, được ăn thua chịu ( Thời đó, các cơ quan chỉ làm theo vốn nghiên cứu, không có nước vẫn được tiền). UBND tỉnh Hà Giang lập tức phúc đáp đồng ý. Cũng phải cuối năm 2004, công việc này mới được giao cho Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh Hà Giang. Sau khi ký HĐKT số 89/04/HĐKT với Sở TN&MT Hà Giang, chúng tôi đã đi khảo sát địa chất, địa vật lý tại một số vùng. Kết quả công tác đo địa vật lý ( Ở VN chưa ai dùng phương pháp này) đã tìm được vùng công tác vừa gần thị trấn, vừa là một nút kiến tạo mạnh, nơi đây là nút giao của nhiều hệ thống đứt gẫy và từng là nơi hoạt động của nhiều núi lửa ( Điều này cũng ít ai tin, hiểu). Từ kết quả đó, đầu năm 2005 chúng tôi bắt đầu khoan thăm dò tại địa điểm gần trường Cán bộ chính trị thuộc xã Đồng Văn.

 

Sau khi khoan được nước ngầm vượt lưu lượng HĐKT tại 1 trong mấy dị thường địa vật lý tìm được, chúng tôi, theo kinh nghiệm đã tiến hành ở một số vùng hiếm nước ngầm khác ( Như Sơn Tây, Phú Thọ, Hoà Bình,..) đã quyết định biến vùng này thành một cụm giếng khoan khau thác nước ngầm với lưu lượng dăm trăm m 3/ngày đêm để cấp cho thị trấn có 5 – 6 ngàn dân. Ý niệm của chúng tôi lúc dó là “ Gái có công, chồng chẳng phụ”. Sau nhiều tháng khoan thăm dò, kết cấu giếng và bơm thử nghiệm trên 4 dị thường địa vật lý, chúng tôi được 4 giếng khoan hoàn chỉnh với tổng lưu lượng 654m3/ngày dêm, nước sạch dùng được cho sinh hoạt không cần sử lý.

 

Kết quả 3 lần nghiệm thu, bơm kiểm tra của Sở, các cơ quan Liên ngành của tỉnh Hà Giang, huyện Đồng Văn và xã Đồng Văn đã khẳng định lưu lượng của 4 giếng khoan như trên, các giếng khoan không ảnh hưởng lẫn nhau và cũng không ảnh hưởng đến nguồn nước hang Cây Nghiến. Một biên bản nghiệm thu công trình đưa vào sử dụng cho 4 giếng khoan đã được các bên ký tên đóng dấu ( Kèm theo văn bản).

 

Rất tiếc, nhiều năm sau, các giếng khoan này chưa được sử dụng vì không có vốn.

 

Mãi đế năm 2013, Bộ TN&MT đã cho vốn để lập trạm bơm khai thác. Giếng khoan được bố trí giữa cụm các GK1, 2 và 3 Theo thông báo, giếng khoan khai thác này có lưu lượng 350m3/ngày.đêm, nếu đúng, nó đã chiếm 70% tổng lưu lượng của 3 giếng khoan 1, 2 &3. Nếu sai, và theo tính chất độc lập của cụm giếng khoan này sẽ vẫn có thể khai thác tiếp GKĐV1 và GKĐV2 ngay sát trạm bơm. Giếng khoan số 4 cách trạm bơm hơn 40m có lưu lượng 155m3/ngày đêm; nước sạch, mực nước tĩnh và động rất gần mặt đất. Năm 2005 giếng khoan số 4 đã được chúng tôi, với sự đồng ý của Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Giang, đã lắp bơm chìm của Mỹ cho dân tại chỗ khai thác phục vụ đời sống hàng mấy năm (kèm theo biên bản). GKĐV4 có thể khai thác bất cứ lúc nào để bổ xung 155m3/ngày đêm nước sạch cho trạm bơm thị trấn Đồng Văn. Tìm được một giếng khoan có nước ở thị trấn Đồng Văn như vậy rất khó. Vì vậy, cần tận thu khai thác cả 4 giếng khoan nói trên. Mặt khác, khi có tiền, nên tìm thêm các cấu trúc địa chất chứa nước ngầm nguồn gốc nội sinh khác trong khu vực, kể cả các vùng đông dân khác để phục vụ đời sống và sản xuất của Cao nguyên đá vôi Đồng Văn.

 

 

TS Lê Huy Y