Phê bình văn học như là sự hòa trộn của các chân trời thẩm mỹ

0
4267

Phê bình văn học hậu hiện đại không còn bó hẹp với những quy tắc hàn lâm của lý thuyết, nó đã nhanh chóng vượt thoát khỏi lằn ranh logic mà lí thuyết văn học có tham vọng quán xuyến hệ thống lý tính thực hành. Ngay cả những lý thuyết gia kỳ cựu nhất của lý thuyết văn học, đứng trước khả năng phản tư khốc liệt tự thân, cũng đành ngậm ngùi chấp nhận sự thất bại của nó. Tzvetan Todorov, Élizabeth Roudinesco, Susan Sontag đã tiên liệu cho sự lên ngôi của phê bình văn học, có tham vọng phê phán lại lí thuyết mà nó ảnh hưởng. Chính logic thực hành văn chương đã phá toang bức rào chắn độc đoán của hệ hình lý thuyết mà nó bị “thâu tóm vào vòng phi lí”, đã đến lúc, phê bình văn học nói thay tiếng nói của lý luận gia về tương lai của lý thuyết văn học. Thay thế vào đó, nền phê bình văn học của tương lai níu kéo con người ở lại với những kinh nghiệm đời tư. Sự sống trải trong kinh nghiệm thẩm mỹ và kinh nghiệm văn hoá của nhà phê bình sẽ thay thế các nhà lý thuyết giải mã văn học, giải mã thế giới tinh thần và giải mã con người. Một nền phê bình văn học như thế, tất yếu sẽ làm phá sản hoàn toàn nền phê bình – kỹ thuật văn học – nền phê bình vốn bị phủ bụi bởi thế giới logic, bởi sự “nguỵ trang” của biện chứng pháp, như thể, nhà phê bình ra đời đã bị thâu tóm ngay vào vòng logic kinh viện từ phía các lý thuyết gia. Một nền phê bình – kỹ thuật như thế, giờ đây chỉ còn là sự thất bại của logic diễn giải, khi nhà phê bình tự khai phóng mình bằng quyền phủ quyết các lý thuyết.

 

 

Có thể nói, chưa có một khoa học tinh thần nào lại ảnh hưởng mạnh mẽ tới đời sống thẩm mỹ h(ậu)iện đại như Hiện tượng luận. Những nền tảng lý thuyết hậu hiện đại đều khởi ra từ căn bản tư tưởng của khoa học này, Giải- kiến tạo, Thông diễn học, Hậu-cấu trúc… đã tìm kiếm trong thế giới hiện tượng tính huỷ thể của thời gian và sử tính trong văn bản, đồng quy thời gian của văn bản văn học vào thời điểm sáng tạo, góp thêm những khía cạnh nhận thức xác đáng đối với nhà phê bình văn học, dọn chỗ cho sự ra đời của “những chân trời hiểu” trải ra bất tận theo các kinh nghiệm cá biệt. Khi nào còn tồn tại con người thì khi ấy đối tượng còn được diễn giải liên tục, không ngừng. Chân lý văn học trong diễn giải không còn nằm ở phía tác giả của văn bản, mà nó truy cầu chân lý độc lập theo kinh nghiệm mỹ cảm của cá nhân nhà phê bình.

 

Một truy luận được mở ra không phải là sự phê phán với văn bản mà là sự phê phán với chính thế giới kinh nghiệm trong mình của chủ thể, thanh tẩy những định kiến thẩm mỹ, định kiến tri thức trước khi bắt đầu quá trình truy nguyên về đối tượng. Do đó, truy luận hiện tượng học không còn là công việc diễn giải điều đối tượng thông điệp, mà thực ra là chủ thể phê bình đang diễn giải chính mình, diễn giải chính ấn tượng mà nó gieo vào mình, dựa trên những gì mình đã sống trải trong hiện thực. Vậy là, phê bình văn học dưới cái nhìn truy luận hiện tượng học không phải là công việc “tái lặp” trong ý nghĩa điều tác giả nói, mà là quá trình sáng tạo không ngừng dựa trên cái đã có là văn bản văn học. Theo đó, chân lí văn học là chân lí của người đọc, nó thuộc về khả năng diễn giải tự thân những kinh nghiệm thẩm mỹ.

 

Trong khoảnh khắc lắng đọng của thời gian, cảm xúc thăng hoa, chủ thể cần phải quy giản những tri thức có hướng biến đổi giá trị thực của văn bản ở thê giới tinh thần của họ. Nhà phê bình cần hoài nghi chính mình, phê phán chính mình cho đến khi nào đạt đến tâm thế ngưng đọng ở trạng thái khách quan trong thế giới tinh thần. Vì vậy, tác giả, nhà phê bình và bạn đọc dưới cái nhìn hiện tượng luận đều sóng bước và liên đới chặt chẽ với nhau, tác giả cùng một lúc sắm vai nhà phê bình, nhà phê bình sắm vai tác giả, người đọc sắm vai nhà phê bình. Cùng với lẽ đó, diễn giải văn học cũng là sự liên kết của đa- lý thuyết, nó tự loại trừ tính không phù hợp của mỗi hệ hình thẩm mỹ trong các lý thuyết, đồng thời không ngừng kế thừa những hạt nhân tích cực của mỗi lý thuyết để hoà trộn vào một bản thể diễn giải. Do đó, phê bình văn học không còn mang tính cưỡng chế và đấu tranh lẫn nhau giữa các lý thuyết, mà là sự hoà trộn của các lý thuyết, ở đó, mỗi lý thuyết có vai trò nhất định trong việc diễn giải một/ một vài khía cạnh của đối tượng thẩm mỹ.

 

Việc chủ thể phê bình tự hoài nghi chính thế giới kinh nghiệm thẩm mỹ có trong mình, bằng việc tạm bỏ trong ngoặc đơn những tri thức, hoặc ý thức hệ thẩm mỹ mà cộng đồng diễn giải gieo vào mình trước đó thông qua việc vận dụng cái tôi- suy tưởng, tôi- hoài nghi, thể hiện sự loại bỏ tuyệt đối những yếu tố ngoại biên có thể làm ý hướng tính thẩm mỹ của nhà phê bình bị thay đổi. Mọi tri thức mà nhà phê bình đã sống trải trong kinh nghiệm đọc của mình thường là kết quả của quá trình chủ thể phê bình “tạm tin” vào đối tượng, do đó, theo thời gian, niềm tin ấy đã trở thành căn bệnh tinh thần, suy tôn ý niệm chủ quan, trở thành thứ “tôn giáo” của diễn giải. Vì vậy, phê bình một đối tượng văn học cụ thể, bằng việc đi tìm phong cách chủ đạo của lối viết là cách làm vô lí, xâm phạm trực tiếp vào khả năng tưởng tượng tự do của của các “chân trời thẩm mỹ”. Mỗi nhà phê bình luôn đứng trên vị thế của một cá thể sống. Việc phê bình văn bản văn học của nhà phê bình cũng giống như việc con người thích nghi linh hoạt với hoàn cảnh sống xã hội. Tuỳ thuộc vào những bước ngoặt khác nhau của cuộc đời, mà ý niệm sống của mỗi cá nhân cũng thay đổi theo.

 

Nhà phê bình cũng vậy, mỗi khoảnh khắc tiếp cận văn bản là mỗi khúc ngoặt mỹ cảm trong họ bị thay đổi, linh hoạt. Do đó, chẳng thể có một phong cách chung cho các phán đoán thẩm mỹ trong khi phê bình văn bản. Nhà phê bình sống một lúc nhiều cuộc đời trên văn bản, trong mối quan hệ với chủ thể sáng tạo, thì nhà phê bình là người sáng tạo thứ hai khi tiếp nhận văn bản. Vì, chẳng ai có thể đọc đúng ý niệm nhà văn thông qua văn bản. Đọc văn bản, với nhà phê bình, thực chất là đọc chính văn bản tư tưởng được tạo nên bởi ý niệm sống của mình, là diễn giải kinh nghiệm thẩm mỹ, kinh nghiệm sống mà chân trời thẩm mỹ trong mình quy định sự hiểu dựa trên những kí hiệu gợi mở từ văn bản. Vậy là, khi nhà phê bình càng cố tỏ ra khách quan bao nhiêu thì ý thức sáng tạo của họ đẩy con người – tinh thần, đẩy kinh nghiệm thẩm mỹ chủ quan vào việc kiến tạo văn bản trong vai trò tác giả bấy nhiêu. Không thể có một văn bản phê bình văn học chỉ biểu tả thuần nhất điều nhà văn nói, đúng ra, những ý tưởng gợi mở của nhà văn qua văn bản chỉ là cái cớ để nhà phê bình sắm vai tác giả trong văn bản của họ.

 

Chủ thể thẩm mỹ hướng về đối tượng không chỉ đơn thuần là hoạt động tâm lý, sử dụng tuyệt đối khả năng suy tưởng của mình, mà quá trình hướng về ấy luôn phụ thuộc vào sự gợi mở từ phía khách thể. Nhà phê bình văn học, do vậy cần “thanh lọc” những tri thức, những “rào cản” ý thức hệ xã hội/ thẩm mỹ có thể khiến mình hiểu sai về văn bản văn học. Gạt bỏ tri thức như là cách thế nhà phê bình hoài nghi những tri kiến ngoại vi, biến đổi đối tượng theo cách hiểu của những cá nhân bên ngoài. Do đó, tri thức cần được phân biệt rạch ròi với kiến thức. Chủ thể phê bình cần quy giản, tạm bỏ trong ngoặc đơn tri thức chứ không phải là kiến thức. Vì kiến thức là điều mình thức nhận thông qua cảm giác, nó phản ánh chân thực điều mình biết về đối tượng, còn tri thức là quá trình nhận thức dựa trên sự phản tư, phê phán về những gì mình biết trước đó bằng cảm giác.

 

Như vậy, kiến thức là quá trình sống trải, tiếp xúc của mình với đối tượng, nó chưa bị biến đổi thông qua sự phân tích, cắt nghĩa và lý giải. Vì việc phân tích, cắt nghĩa và lý giải ấy là quá trình chủ quan, mang sắc thái thuần tâm lý, ở đó, mọi quy kết, áp đặt có thể xảy ra. Tri thức mà nhà phê bình mang giữ có thể khiến họ hiểu sai về văn bản văn học. Nhà phê bình có thể có những phán đoán/ hiểu trước về văn bản, tuy nhiên những phán đó không đảm bảo tính xác thực, nếu họ chưa trực tiếp đọc, đối thoại với nó. Từ việc biết trước (tri thức) về đối tượng, tới khi đối tượng- văn bản văn học xuất hiện là cả quá trình. Chính sự hiện diện của văn bản, mới quy định cách hiểu của chủ thể phê bình về nó, chứ không phải là tri thức chủ quan nhà phê bình xác quyết về sự hiểu. Vậy là, sự hiểu của nhà phê bình chỉ có được khi văn bản “hiện diện” trực tiếp trước sự đọc của họ. Tuy nhiên để có cách hiểu đúng dựa trên những gì văn bản mở ra cho ta, thì nhà phê bình phải gạt bỏ thái độ “biết trước” (tri thức) về đối tượng, một cách khách quan. Việc luôn hoài nghi chính mình, sẽ giúp chủ thể phê bình tách mình thành một người khách qua đường, hướng cái nhìn vô vụ lời về văn bản, rung cảm trước sự cám dỗ bất ngờ của nó, như “tiếng sét” làm rung chuyển trái tim đa cảm nghệ thuật. Nhà phê bình tìm đến đối tượng chỉ còn là tri kiến về nó, được nó gợi mở với những ấn tượng thẩm mỹ, dẫn dắt họ trở về với hồi tưởng trong mình. Văn bản văn học không phải là nơi mà nhà phê bình có thể tìm thấy sự gợi mở, dẫn nhập vào thế giới của tác giả, ngược lại, nó gợi mở và dẫn nhập anh ta trở về với chính xúc cảm, kinh nghiệm thẩm mỹ, kinh nghiệm sống trải trong mình, dọn chỗ cho một sự suy niệm, phản tư tự thân.

 

Vì là quá trình tự tìm lại sự hiểu bằng kinh nghiệm thẩm mỹ từng bị/được hiện thực tiếp nhận gieo vào trong thê giới tươi mát của tinh thần, cho nên sự hiểu của nhà phê bình không phải là hiểu về văn bản, mà ngược lại, y đang hiểu chính ký ức bị lãng quên trong mình, khai lộ và làm mới chúng bằng việc viết lại điều dẫn dắt tư duy từ sự hiểu ra văn bản. Do đó, đọc hay phê bình văn học là quá trình sáng tạo bằng ý niệm cá nhân của chủ thể tính. Quá trình đọc văn bản không phải là quá trình giải mã điều nhà văn đã nói trong văn bản, mà là quá trình nhà phê bình cấp ý nghĩa, phó thác ý niệm thẩm mỹ của mình cho văn bản ấy. Vì vậy, văn bản phê bình văn học là văn bản thuần ý niệm của nhà phê bình, nó được xem như sáng tạo hoàn toàn mới, một thế giới mới được họ dựng lên trên sự gợi mở, dẫn nhập từ văn bản gốc của nhà văn. Do đó, bất cứ sự đọc nào cũng là sự sáng tạo lại, dù cho sự đọc đó bắt đầu bằng một ý thức “cợt nhả”, “trêu đùa” mang tính giải trí, thì cũng xuất phát từ ý niệm sống trải mà người đọc hồi tưởng thông qua quá trình đọc. Vì, ngoại trừ cách thế đọc văn bản mà tâm hồn “thả trôi theo trăng trên trời” thì mới không phải là sự sáng tạo, còn đã đọc văn bản, hướng ý định đọc về văn bản bao giờ cũng là sự diễn giải ý chủ quan dựa trên điều nó gợi mở.

 

Những điều văn bản văn học gợi mở đều là sự cụ thể hoá những hiện tượng trong hiện thực thông qua ngôn từ, do đó ngôn từ ấy phải là thứ ngôn từ chung mà mọi người trong cộng đồng có thể hiểu, được lưu giữ trong tinh thần mình. Hoạt động đọc hay phê bình về văn bản văn học của nhà phê bình/độc giả, là sự gặp nhau giữa những điều đã biết của nhà văn với điều đã biết nơi họ. Cái mà chúng ta gọi là sáng tạo thế giới hình tượng nghệ thuật, thực ra là, nhà văn đang làm rõ ý niệm, cách suy tư, cách quan niệm của mình về thế giới và con người. Do đó, văn bản phê bình hợp lý là văn bản mà nhà phê bình làm rõ quan niệm của mình dựa trên sự gặp gỡ, gợi mở từ quan niệm của nhà văn qua tác phẩm. Sự biết, đơn giản là những điều nhà văn nói/ viết “chạm” tới điều người đọc trăn trở, khó cắt nghĩa, diễn giải ra thành ý tưởng cụ thể. Giờ đây, nhà văn đã rọi thứ ánh sáng tinh thần tinh khiết vào mảng tối, khuất lấp trong thế giới tâm hồn người đọc, đánh thức và giúp họ làm rõ, phá tung sự ù lì, u tối, đưa ý tưởng của họ được thăng hoa, khi họ trải dài sự thăng hoa ấy dưới ngòi bút của việc viết lại. Vì vậy, đọc văn bản là quá trình mà người đọc cấp ý niệm, cấp nghĩa của mình cho nó, chứ không phải là diễn giải điều nhà văn nói. Nó thuần tuý thuộc về thế giới tinh thần, chứ không phải là hoạt động “phản ánh” hiện thực. Do đó, bất cứ sự đọc nào cũng là sự sáng tạo lại thế giới thẩm mỹ theo ý định chủ quan, theo những chân trời khả thể của sự hiểu.

 

Dưới cái nhìn xuyên thấu bản chất hiện tượng phê bình/sáng tạo/đọc như vậy, hiện tượng luận đã mở ra sự dàn trải bất tận của siêu hình học, của đời sống nội tâm, của kinh nghiệm thụ cảm thẩm mỹ. Sự trải dài bất tận của đời sống tâm hồn đã cứu rỗi những khiếp sợ, những lo lắng về khả năng vắng bóng của văn học. Văn học sẽ không bao giờ mất đi, nếu như con người còn hiện hữu trong cuộc đời này. Vì, còn con người thì còn sự sống trải của tâm hồn, là còn nung nấu và còn sáng tạo. Giờ đây, mỗi cá nhân đều là một vị Chúa sáng thế trên văn bản của mình. Họ có quyền nhào nặn ra đủ gương mặt con người, gương mặt xã hội, diện mạo thế giới theo ý niệm chủ quan, theo những kinh nghiệm tích luỹ và không ngừng phản tư, phê phán chính mình.

 

Hoạt động phê bình/đọc/sáng tạo giờ chỉ còn ý nghĩa như là công cuộc tái thiết bất tận những trân trời khả thể của sự hiểu, không còn vương vấn ý nghĩ xem chân lí sáng tạo là cái duy nhất (độc sáng), độc đoán mà chỉ có nhà văn mới làm được. Khi nào còn tồn tại những chân trời hiểu thì khi ấy, mọi sự viết ra đều là sự sáng tạo và không ngừng sáng tạo cho tới khi chủ thể ý hướng tính chạm tới những giới hạn trong kinh nghiệm thẩm mỹ của mình. Vậy là, nhà phê bình văn học, độc giả bình thường cũng có thể là nhà văn – kẻ sáng tạo trước văn bản văn học, chỉ duy, sự sáng tạo của họ đạt tới cảnh giới nào, là sáng tạo một thế giới có chiều sâu, phản ánh kích thước nhân bản thời đại hay chỉ là những ý nghĩ vụn vặt, đùa giỡn với chính mình, với sự vô nghĩa và rệu rã của đời sống tâm hồn? Việc tái thiết thế giới bằng hình tượng nghệ thuật phụ thuộc vào nhân cách, tầm đón đợi, kinh nghiệm sống trải, sự uyên thâm tri thức, khả năng suy niệm xuyên hiện thực, kết nối đa văn hoá, đa trí tuệ và đa chân trời hiểu của chủ thể tính thẩm mỹ. Từ đó chúng ta mở suy niệm của mình tới những chân trời hiểu vô tận đang vẩn quấn, quyến rũ ở bên ngoài ta.